Giáo trình kế toán máy

MISA thông báo nâng cấp phần mềm và cập nhật Giáo trình kế toán máy...

Xem tiếp...

Kỳ nghỉ mát hè 2019 của cán bộ giảng viên Nhà trường

Căn cứ Thông báo số 12/TB-CVA ngày 05/5/2019 của Ban Giám hiệu Trường Đại học Chu Văn An về "Lịch nghỉ hè năm 2019 - đợt 1"; Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Đảng bộ Trường Trường Đại học Chu Văn An về vệc tổ chức nghỉ mát hè 2019, Ban chấp hành Công đoàn Trường Đại học Chu Văn An tổ chức kỳ nghỉ mát hè 2019 tại Khu biệt thự nghỉ dưỡng FLC Sầm Sơn - Thanh Hóa từ ngày...

Xem tiếp...

Đề Toán phân loại cao, thí sinh dễ kiếm điểm trên trung bình

Thí sinh cả nước vừa hoàn thành buổi thi môn Toán, kỳ thi THPT quốc gia 2019. Nhiều thí sinh nhận định đề phân loại cao, dễ lấy điểm trên trung bình. Sáng mai, những thí sinh chọn bài thi tổ hợp Khoa học tự nhiên sẽ làm bài thi 3 môn Vật lí, Hóa học và Sinh học....

Xem tiếp...

Giới thiệu khoa kiến trúc

Khoa kiến trúc đại học Chu Văn An được thành lập từ 2006. Luôn luôn có thành tích tốt trong công tác dạy và học....

Xem tiếp...

Thông báo Lịch thi sát hạch chuẩn đầu ra

Trường Đại học Chu Văn An trân trọng thông báo về việc thi sát hạch chuẩn đầu ra môn Tiếng Anh và Tin học đối với sinh viên tốt nghiệp Trường Đại học Chu Văn An như sau:...

Xem tiếp...

Thông báo nộp học phí Hệ chính quy học kỳ I năm học 2015-2016

Trường Đại học Chu Văn An trân trọng thông báo về việc nộp học phí chính quy học kỳ I năm học 2015-2016 như sau:...

Xem tiếp...

Thời khóa biểu học kỳ I , năm học 2015-2016

Trường Đại học Chu Văn An trân trọng thông báo thời khóa biểu học kỳ I, năm học 2015-2016 như sau:...

Xem tiếp...

Thông báo lịch thi sát hạch chuẩn đầu ra năm 2015 (đợt 2)

Trường Đại học Chu Văn An trân trọng thông báo lịch thi sát hạch chuẩn đầu ra môn Tiếng Anh và Tin học đối với sinh viên tốt nghiệp Trường Đại học Chu Văn An như sau:...

Xem tiếp...

Hướng dẫn quy trình bảo vệ luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh khóa 1

Viện Đào tạo Sau đại học - Trường Đại học Chu Văn An thông báo hướng dẫn quy trình bảo vệ luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh khóa 1 như sau:...

Xem tiếp...

Bộ GDĐT xác nhận Đề án của Trường Đại học Chu Văn An

Bộ Giáo dục và Đào tạo Xác nhận đề án của Trường gửi kèm theo công văn số 46/CV/GH-CVA, ngày 15 tháng 4 năm 2015 đã đáp ứng được các yêu cầu quy định tại Quy chế tuyển sinh đại học cao đẳng hệ chính quy hiện hành...

Xem tiếp...
  • Album Chùm ảnh Lễ Khai giảng Đại học Chu Văn An
  • Album Lễ dâng hương và trao bằng tốt nghiệp
  • Album Đêm văn nghệ hướng về miền Trung
  • Album Ảnh khởi công trường Đại học Chu Văn An
  • Album Chùm ảnh ngày hội Kiến trúc của sinh viên Kiến trúc Trường Đại học Chu Văn An
  • Album Chùm ảnh cuộc thi Micro vàng 2010 sinh viên Đại học Chu Văn An

NHỮNG KHÁI NIỆM NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN LIÊN QUAN ĐẾN VĂN HOÁ HỌC

Ngày đăng: 9/4/2013 4:51:17 PM Lượt xem: 4324

Hy vọng rằng Những khái niệm ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến văn hoá học của PGS.VS.TSKH. Trần Văn Cơ sẽ góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu các lĩnh vực văn hoá nhận thức và văn hoá ngôn từ trong văn hoá học.

 NHỮNG KHÁI NIỆM NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 

LIÊN QUAN ĐẾN VĂN HOÁ HỌC

(trích sách Ngôn ngữ học tri nhận. Từ điển”)

PGS.TSKH. TRẦN VĂN CƠ

TV-Co 

 

 

 

 

Mục lục

 

   Giới thiệu: TRẦN VĂN CƠ VÀ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN (Trần Ngọc Thêm)

   I- TRI NHẬN, Ý NIỆM và CẢM XÚC

        TRI NHẬN (cognition)

NHÂN CHỦNG HỌC TRI NHẬN (cognitive anthropology)

BỨC TRANH NGÔN NGỮ VỀ THẾ GIỚI (linguistic worldview)

Ý NIỆM (concept)

Ý NIỆM HOÁ (conceptualization)

CẤU TRÚC CỦA Ý NIỆM (structure of concept)

PHÂN LOẠI Ý NIỆM (classification of concepts)

CẢM XÚC (emotion)

PHÂN LOẠI CẢM XÚC THEO MÔ HÌNH TÂM-SINH LÍ HỌC (psycho-physiological classification of emotions)

II- PHẠM TRÙ và ĐIỂN DẠNG

PHẠM TRÙ (category)

PHẠM TRÙ HÓA (categorization)

ĐIỂN DẠNG (prototype)

KHUÔN MẪU LỜI NÓI (stereotype)

HIỆN TƯỢNG MỜ (fuzzy)

IV- ẨN DỤ và HOÁN DỤ

ẨN DỤ (metaphor)

ẨN DỤ CẤU TRÚC (structural metaphor)         

ẨN DỤ ĐỊNH HƯỚNG (orientational metaphor)

ẦN DỤ TRI NHẬN/ Ý NIỆM (cognitive/ conceptual metaphor)

TÍNH HỆ THỐNG CỦA NHỮNG Ý NIỆM ẨN DỤ (systematicity of metaphorical concepts)

TƯƠNG HÒA VĂN HÓA (cultural coherence)

HOÁN DỤ (metonymy)

V- BIỂU TRƯNG HÓA và DĨ NHÂN VI TRUNG

BIỂU TRƯNG HÓA (symbolization)

BIỂU TƯỢNG (symbol)

BIỂU TƯỢNG TINH THẦN (mental representation)

DĨ NHÂN VI TRUNG (anthropocentrism)

HUYỀN THOẠI CHỦ NGHĨA KHÁCH QUAN (myth of objectivism)

HUYỀN THOẠI CHỦ NGHĨA CHỦ QUAN (myth of subjectivism)

VI- CUỘC CÁCH MẠNG LAKOFF-JOHNSON

1. George LAKOFF

2. G. Lakoff – người tự phủ định mình

3. G. Lakoff và M. Johnson ― những “người nổi loạn” trong ngôn ngữ học thế giới nửa sau thế kỉ XX

4. Cuộc cách mạng tri nhận đang tiếp diễn.

 

Giới thiệu: TRẦN VĂN CƠ VÀ NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN

 

PGS.TSKH. Trần Văn Cơ sinh ngày 15-11-1936 tại Nha Trang. Ông là một nhà Nga ngữ học, từng công tác tại Phân viện Pushkin và Khoa Ngữ văn Nga. Luận án TSKH của ông có nhan đề “Nguyên lý ngữ pháp học âm dương” , đã được Nhà xuất bản “Sáng tạo” của Hội KH-KT Việt Nam tại Nga xuất bản bằng tiếng Nga năm 1997 (265 tr.). Ông đã có nhiều năm làm công tác viên khoa học  tại Viện hàn lâm khoa học Nga, được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học tự nhiên Nga.

Trong những năm sau này, Ngôn ngữ học tri nhận là hướng nghiên cứu chính của ông. Các công trình chính của ông, ngoài cuốn “Nguyên lý ngữ pháp học âm dương” bằng tiếng Nga (1997) vừa nhắc ở trên, còn có:

Ngôn ngữ học tri nhận (Ghi chép và suy nghĩ). Nxb. Khoa học xã hội. Hà Nội, 2007.

Khảo luận - Ẩn dụ tri nhận. Nxb. Lao động – Xã hội. TP. Hồ Chí Minh, 2009.

Ngôn ngữ học tri nhận. Từ điển. Nxb. Phương Đông. TP. Hồ Chí Minh, 2011.

Và nhiều bài trên T/c Ngôn ngữ về Ngôn ngữ học tri nhận.

Ngôn ngữ học tri nhận (Cognitive Linguistics) là một hướng nghiên cứu mới hình thành trong nửa sau thế kỷ XX, là một bộ phận của Khoa học tri nhận (Cognitive science) nói chung, có liên hệ mật thết với văn hoá học và “Nhân chủng học tri nhận” (cognitive anthropology)

Được sự đồng ý của tác giả, vanhoahoc.edu.vn xin giới thiệu 27 mục từ trong cuốn “Ngôn ngữ học tri nhận. Từ điển” (do Nxb. Phương Đông ấn hành tại TP. Hồ Chí Minh năm 2011) có liên quan nhiều nhất đến văn hoá học.

27 mục từ này được chúng tôi xếp thành bốn phần theo bốn chủ đề:

Phần thứ nhất “TRI NHẬN, Ý NIỆM và CẢM XÚC” giới thiệu những khái niệm cơ bản: từ TRI NHẬN (cognition) tới NHÂN CHỦNG HỌC TRI NHẬN (cognitive anthropology), rồi đi qua giới thiệu chung về BỨC TRANH NGÔN NGỮ VỀ THẾ GIỚI (linguistic worldview). Trên cơ sở đó đi sâu vào khái niệm chủ chốt của khoa học tri nhận là Ý NIỆM (concept), cùng với nó là các vấn đề Ý NIỆM HOÁ (conceptualization), CẤU TRÚC CỦA Ý NIỆM (structure of concept) và PHÂN LOẠI Ý NIỆM (classification of concepts). Bên cạnh nhận thức khách quan, hoạt động tri nhận không thể bỏ qua được một vấn đề khác là CẢM XÚC (emotion). Cảm xúc khác với nhận thức ở chỗ nó là sự phản ứng chủ quan của con người đối với những tác động của thế giới khách quan. Cảm xúc thuộc thế giới bên trong (nội tâm) của con người, do đó nó cũng là đối tượng của tri nhận. Sau khái niệm Cảm xúc, phần I kết thúc bằng việc PHÂN LOẠI CẢM XÚC THEO MÔ HÌNH TÂM-SINH LÍ HỌC (psycho-physiological classification of emotions).

Phần thứ hai “PHẠM TRÙ và ĐIỂN DẠNG” giới thiệu những công cụ cơ bản của hoạt động tri nhận. Con ngườinhận thức thế giới bằng cách quy mọi hiện tượng, sự vật về các PHẠM TRÙ (category) bằng cách PHẠM TRÙ HÓA (categorization) chúng. Những phạm trù điển hình tạo tyhành những ĐIỂN DẠNG (prototype). Cũng theo hướng phạm trù hóa, điển dạng hóa là việc tạo lập và sử dụng các KHUÔN MẪU LỜI NÓI (stereotype). Trong quá trình phạm trù hóa, điển dạng hóa, khuôn mẫu hóa, con người không bao giờ được phép quên rằng vạn vật trong thế gian vốn mang bản chất là những HIỆN TƯỢNG MỜ (fuzzy).

Phần thứ ba “ẨN DỤ và HOÁN DỤ” đi sâu giới thiệu một trong những lĩnh vực nghiên cứu quan trọng của ngôn ngữ học tri nhận là lý thuyết về ẨN DỤ (metaphor). Từ chỗ là một khái niệm của ngôn ngữ học, ẩn dụ đang trở thành đồi tượng quan tâm của nhiều khoa học: triết học, lôgic học, tâm lí học, thần kinh học v.v., xúc tiến sự tác động lẫn nhau và hội nhập của các tư tưởng khoa học. Ẩn dụ trở thành chìa khoá mở ra sự hiểu biết những cơ sở của tư duy và các quá trình nhận thức những biểu tượng tinh thần về thế giới. Từ khái niệm chung về ẩn dụ, bạn đọc sẽ được tiếp xúc với các vấn đề: ẨN DỤ CẤU TRÚC (structural metaphor)      , ẨN DỤ ĐỊNH HƯỚNG (orientational metaphor), ẦN DỤ TRI NHẬN/ Ý NIỆM (cognitive/ conceptual metaphor), TÍNH HỆ THỐNG CỦA NHỮNG Ý NIỆM ẨN DỤ (systematicity of metaphorical concepts). Do ẩn dụ tri nhận được phản ánh qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, nên cấu trúc ẩn dụ của những ý niệm cơ bản phải phù hợp với những giá trị văn hóa nền tảng nhất. Tương hòa nghĩa là. Mục từ TƯƠNG HÒA VĂN HÓA (cultural coherence) cho thấy việc sử dụng ẩn dụ phải phù hợp như thế nào với cách nghĩ, với quan niệm về thế giới, với phong tục tập quán, với những hoạt động tinh thần của cộng đồng chủ thể văn hóa. Cuối phần này giới thiệu về một khái niệm luôn đi liền với ẩn dụ là HOÁN DỤ (metonymy).

Phần thứ tư “BIỂU TRƯNG HÓA và DĨ NHÂN VI TRUNG” giới thiệu một công cụ khác của khoa học tri nhận là BIỂU TRƯNG HÓA (symbolization). Sản phẩm của biểu trưng hóa là BIỂU TƯỢNG (symbol), loại biểu tượng quan trọng nhất là BIỂU TƯỢNG TINH THẦN (mental representation). Mọi quá trình phạm trù hóa, điển dạng hóa, khuôn mẫu hóa, biểu trưng hóa đều không thoát ra khỏi mối quan hệ của hoạt động tri nhận trong mối quan hệ với con người, hoạt động này dựa trên một nguyên lí mang tính phương pháp luận chủ đạo là nguyên lí DĨ NHÂN VI TRUNG (anthropocentrism)  một học thuyết triết học chủ trương con người là trung tâm của vũ trụ và là mục đích của tất cả những sự kiện diễn ra trong thế gian. Và trong việc tri nhận thế giới mà con người là trung tâm ấy, mọi thứ CHỦ NGHĨA KHÁCH QUAN (objectivism) hay CHỦ NGHĨA CHỦ QUAN (myth of subjectivism) đều chỉ là những HUYỀN THOẠI (myth).

Với tư cách là một Phụ lục, phần cuối cùng dành cho việc giới thiệu “CUỘC CÁCH MẠNG LAKOFF-JOHNSON”. G. Lakoff và M. Johnson là hai đồng tác giả của quyển sách “Ẩn dụ chúng ta đang sống” (“Metaphors We Live by”) xuất bản năm 1980 tại Mỹ. Đây là cuốn sách đã làm đảo lộn tư duy khoa học về ngôn ngữ của các nhà ngôn ngữ học trên thế giới và được xem là “Kinh Thánh của ngôn ngữ học tri nhận. Phần “CUỘC CÁCH MẠNG LAKOFF-JOHNSON” gồm bốn mục: (1) Giới thiệu về George LAKOFF; (2) G. Lakoff – người tự phủ định mình; (3) G. Lakoff và M. Johnson ― những “người nổi loạn” trong ngôn ngữ học thế giới nửa sau thế kỉ XX; (4) Cuộc cách mạng tri nhận đang tiếp diễn.

Hy vọng rằng Những khái niệm ngôn ngữ học tri nhận liên quan đến văn hoá học của PGS.VS.TSKH. Trần Văn Cơ sẽ góp phần thúc đẩy việc nghiên cứu các lĩnh vực văn hoá nhận thức  văn hoá ngôn từ trong văn hoá học.

 

GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

I- TRI NHẬN, Ý NIỆM và CẢM XÚC

TRI NHẬN (cognition)

 

Tri nhận – là khái niệm trung tâm của khoa học tri nhận. Nó chứa đựng hai nghĩa của những từ La Tinh kết hợp lại: cognitio có nghĩa là nhận thức và cogitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ. Tóm lại nó biểu hiện một quá trình nhận thức hoặc là tổng thể những quá trình tâm lí (tinh thần, tư duy) – tri giác, phạm trù hoá, tư duy, lời nói v.v. phục vụ cho việc xử lí và chế biến thông tin. Nó bao gồm cả việc con người nhận thức và đánh giá bản thân mình trong thế giới xung quanh và xây dựng bức tranh thế giới đặc biệt - tất cả những cái tạo thành cơ sở cho hành vi của con người.

 

Tri nhận là tất cả những quá trình trong đó những dữ liệu cảm tính được сải biến khi truyền vào trong não dưới dạng những biểu tượng tinh thần (hình ảnh, mệnh đề, khung, cảnh v.v.) để có thể lưu lại trong trí nhớ con người.

 

Theo Мaslova (Маслова 2005), tri nhận bao quát cả tri thức và tư duy được thể hiện bằng ngôn ngữ, vì vậy tri nhận, tri nhận luận liên quan chặt chẽ với ngôn ngữ học. Hiện nay đã trở thành một định đề là trong cái phức thể các khoa học về con người, cái mà người ta gặp trước tiên là quan hệ giữa ngôn ngữ và các dạng hoạt động khác của con người. Ngôn ngữ thậm chí ở mức độ nhiều hơn là văn hoá và xã hội cung cấp cho các nhà tri nhận luận chìa khoá để hiểu được hành vi của con người.

 

Schwars 1992 cho rằng quá trình tri nhận cần được khảo sát không chỉ trên cấp độ cao – tư duy, lời nói – mà còn cả trên cấp độ cảm tính-tri giác, cảm giác-vận động thường xảy ra trong những hành động tiếp xúc đơn giản với thế giới. Với nghĩa đó tri nhận là quá trình liên quan đến cả sự nhận thức khoa học về thế giới, cả sự nhận biết đơn giản (đôi khi vô thức, tiềm thức) hiện thực bao quanh con người. N. Chomsky 1980 khẳng định rằng động từ tiếng Anh to cognize vừa biểu hiện những hành động có mục đích, có ý thức, vừa biểu hiện những quá trình diễn ra một cách vô thức. Đó là cơ sở để ông đối lập động từ to cognize ‘tri nhận’ với động từ to know ‘biết’.

 

Đôi khi tri nhận còn được định nghĩa như là sự tính toán (computation), nghĩa là xử lí thông tin dưới dạng những kí hiệu, cải biến nó từ dạng này sang dạng khác – thành mã khác, thành cấu trúc khác (Rickheit, Strohner 1993).

 

Cần phân biệt hai khái niệm: nhận thức và tri nhận.

 

Thuật ngữ “nhận thức” chúng ta đã biết từ lâu qua việc nghiên cứu triết học, tâm lí học, logic học và các khoa học khác. Tuổi đời của nó ngang bằng với tuổi đời của triết học nếu kể từ Platon (428-348 trước công nguyên), người đề xướng phép biện chứng như phương pháp nghiên cứu nhận thức, và Aristotle (384-322 trước công nguyên), người khai thủy phép phân tích trong nhận thức luận. Thuật ngữ “tri nhận” với tư cách là thuật ngữ của ngôn ngữ học xuất hiện trên thế giới cách đây không lâu, vào thập niên 70 của thế kỉ XX, ở Việt Nam nó xuất hiện càng muộn hơn. Thực ra hai thuật ngữ này – nhận thức, tri nhận - cùng được dịch từ một từ tiếng Anh là cognition, và từ tiếng Anh này, đến lượt mình, lại có nguồn gốc từ tiếng La Tinh bao gồm hai phần hợp lại cognitio có nghĩa là nhận thức và cognitatio có nghĩa là tư duy, suy nghĩ. Như vậy, xét về mặt từ nguyên, nhận thức và tri nhận tuy hai mà một. Cả hai thuật ngữ này đều liên quan đến quá trình nhận thức, quá trình tư duy của con người, nghĩa là quá trình con người phản ánh thế giới khách quan vào ý thức của mình.

 

Song, cái sự “tuy hai mà một” này khiến chúng ta băn khoăn và đặt câu hỏi: phải chăng hai thuật ngữ này có cùng một nội dung, cùng biểu hiện một khái niệm, hay nói theo logic học, có chung một nội hàm?

 

Cái lí thú của vấn đề là ở chỗ tại sao lí thuyết về nhận thức thì người ta không gọi bằng tiếng Anh là *Theory of Cognition hoặc *Cognitive Theory, mà gọi là Theory of Knowledge (hay Gnoseology hay Epistemology)? Lại nữa, tại sao các nhà ngôn ngữ học Mĩ, khi đặt nền móng cho ngôn ngữ học tri nhận, đã không đặt tên cho con đẻ của mình là ngôn ngữ học nhận thức (*Linguistics of Knowledge hoặc *Gnoseological Linguistics), mà dùng thuật ngữ Cognitive Linguistics? Chẳng hạn, Lakoff, Thompson 1975 “Introducing to cognitive grammar”; Lakoff 1982 “Categories: An essay in cognitive linguistics”; Langacker 1987 “Foundation of Cognitive Grammar”; Rudzka-Ostyn 1988 “Topics in Cognitive Linguistics” v.v.

 

Điều đó tất nhiên không phải không có lí do của nó.

 

Lí do thứ nhất: thuật ngữ nhận thức chỉ quá trình chung của việc con người tìm hiểu thế giới, bao gồm thế giới tự nhiên, xã hội và con người, đó là cái đích chung mà tất cả các khoa học hướng tới, nó không riêng gì cho một khoa học nào. Bất kì khoa học nào cũng lấy việc nhận thức thế giới làm mục đích của mình. Toán học nhận thức các quan hệ số lượng và hình dạng trong thế giới khách quan. Vật lí học nhận thức cấu trúc và các dạng chuyển động của vật chất. Xã hội học nhận thức quá trình và quy luật phát triển của các hiện tượng trong đời sống xã hội. Tâm lí học nhận thức các hiện tượng tâm lí của con người với những quy luật và cơ chế của nó. Ngôn ngữ học nhận thức cấu trúc của ngôn ngữ con người và cơ chế hành chức của nó trong hoạt động giao tiếp và tư duy. Vì tính chất chung đó, tính chất khái quát mang tính mục đích đó của thuật ngữ nhận thức, nên không thể dùng nó như một định ngữ, một attribute cho các khoa học.

 

Lí do thứ hai: nhận thức và tri nhận có nội hàm, đối tượng, phương pháp và phương tiện nghiên cứu riêng.

 

Nếu khoa học nhận thức hướng tới chân lí trong khi nghiên cứu thế giới hiện thực bằng phương pháp và phương tiện khoa học, đó là nhận thức khoa học, thì ngôn ngữ học tri nhận định hướng nghiên cứu tới quá trình tinh thần (mental process) của con người nhờ vào ngôn ngữ tự nhiên của con người. Quá trình tinh thần của con người được nhắc đến ở đây là quá trình hình thành và phát triển tri thức (sự hiểu biết) và ở cấp độ cao hơn – trí tuệ - trong não của con người bằng những phương tiện ngôn ngữ: âm, từ vựng, ngữ pháp. Do đó ngôn ngữ được xem là công cụ của tư duy. Quá trình tinh thần liên quan mật thiết với quá trình thu nhận, xử lí, chế biến và lưu trữ thông tin trong não. Cấu trúc và quá trình tri nhận đã được các nhà tri nhận luận nghiên cứu dưới nhiều dạng rất phong phú, chẳng hạn, dưới dạng những kiến tạo mô hình kiểu khung (frame) của M. Minsky, kiểu cấu hình ứng dụng của Ch. Fillmore, kiểu mô hình tri nhận lí tưởng của G. Lakoff, kiểu không gian tinh thần của R. Jackendoff, kiểu siêu phạm trù ngữ nghĩa-ngữ pháp của L. Talmy hoặc kiểu bức tranh ngây thơ về thế giới của Ju. Aprexian v.v.

 

Tri nhận là đối tượng nghiên cứu không chỉ của ngôn ngữ học, mà của các khoa học tri nhận. Ngôn ngữ học nghiên cứu mối liên hệ giữa các hệ thống ngôn ngữ với sự hiểu biết. Triết học nghiên cứu những vấn đề chung của tri nhận và phương pháp luận của các quá trình phát triển của sự hiểu biết. Thần kinh học quan tâm đến những cơ sở sinh học của quá trình tri nhận và những định chế sinh lí của các quá trình diễn ra trong não người. Tâm lí học triển khai các phương pháp thực nghiệm để nghiên cứu những biểu tượng tinh thần và những thao tác điều khiển chúng, đồng thời nghiên cứu những cơ chế như quy nạp, suy diễn, suy luận, chức năng lưu giữ kiến thức và khả năng liên tưởng của chúng trong não.

 

Thuộc các bình diện nghiên cứu vấn đề tri nhận còn có khả năng tri nhận của con người – khả năng nói, nét điển hình khu biệt con người không chỉ với các loài động vật, mà với cả máy móc (Leiber 1991). Cùng với khả năng nói, con người còn có những khả năng tri nhận khác như là khả năng học tập, khả năng giải quyết vấn đề, suy đoán, kết luận, lập luận, nhìn thấy, nghe thấy, ngửi, nếm, hành động theo ý chí của mình.

 

Ngày nay các nhà tri nhận luận cho rằng cần thiết phải lôi cuốn vào phạm vi nghiên cứu vấn đề tri nhận những nhân tố tiến hóa của con người, những nhân tố văn hóa học và cả các quan hệ xã hội (Klix 1992, Carston 1989, Goschke 1990, Kintsch 1977, Varela, Thompson, Rosch 1993).

 

Tóm lại, trong phạm vi nghiên cứu tri nhận có những vấn đề sau đây:

 

1.  Những quá trình tâm lí nào có liên quan đến tri nhận và xác tính tất cả những bình diện của nó bắt đầu từ việc xử lí tín hiệu cảm giác đến những quá trình cực kì phức tạp như giải quyết vấn đề, phân tích vai trò của cảm xúc trong tri nhận.

 

2.  Trả lời câu hỏi: tri thức được tổ chức như thế nào, và có thể hình dung nó dưới dạng những hệ thống gì? Tri nhận có thể đưa đến những kết quả và những đối lập nào? Cần làm rõ sự khác nhau giữa hai loại tri thức: biết cái gì và biết như thế nào.

 

3.  Những mô hình nào và những phương pháp nào mới có thể đề xuất để giải thích tri nhận?

 

 Nghiên cứu tri nhận như là một sức mạnh đang được hình thành và đang hình thành ra một cách hiểu thế giới; nghiên cứu thuộc tính đa chức năng của tri nhận, mối liên hệ của nó với ý chí và hoạt động sáng tạo của con người.

 

 

 

NHÂN CHỦNG HỌC TRI NHẬN (cognitive anthropology)

 

Nhân chủng học (Anthropology - tiếng Hi-lạp άνθρωπος — con người; tiếng Hi-lạp cổ λόγος — học thuyết, tư tưởng) — là môn khoa học nghiên cứu con người, gọi là nhân chủng học hoặc nhân học.

 

Nhân chủng học tri nhận xuất hiện vào khoảng giữa những năm 50 của thế kỉ XX do kết quả của sự thay đổi quan niệm “văn hóa”. Trước đó những định nghĩa văn hóa đều mang tính chất hành vi luận – văn hóa được hiểu là mô hình của hành vi, của hành động và những tập tục. Nội dung hành vi luận cũng được phản ánh vào ngôn ngữ học và tâm lí học. Quan điểm cho rằng văn hóa có chức năng tri nhận đã có ảnh hưởng đồng thời đến ba lĩnh vực: nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ học và tâm lí học.

 

Năm 1957 Ward Goodnaf công bố một bài báo gây ảnh hưởng lớn đến cách hiểu văn hóa là một hệ thống tri thức. Bài báo khẳng định rằng văn hóa của một xã hội bao gồm tất cả những gì cần phải biết và cần phải tin để hành xử theo nguyên tắc được các thành viên của xã hội chấp nhận, nghĩa là bản thân các thành viên của xã hội theo đó định hướng hành động của mình. Nhân chủng học tri nhận đặt cơ sở trên định nghĩa đó, tuyên bố mục đích của mình là nghiên cứu năng lực (competence) văn hóa, nghiên cứu “lí thuyết văn hóa” trừu tượng được lưu giữ trong đầu của các đại biểu của nó, chứ không phải những sự “thể hiện” (performance) cụ thể lí thuyết đó trong thực tế. Theo quan điểm này, để trả lời câu hỏi văn hóa của một xã hội là gì, cần phải liệt kê tất cả những gì cần thiết phải biết để có thể tồn tại trong xã hội đó.

 

Trong mỗi nền văn hóa phải có một hệ thống những quy tắc nhất định có thể gọi là những “chương trình văn hóa” quy định hành động, cách hành xử của mỗi người, giống như máy vi tính hoạt động theo những chương trình đã được lập sẵn. Trong nhân chủng học tri nhận, “văn hóa” được định nghĩa trước hết là một hệ thống tri thức, một hệ thống ý niệm nội tại đặt cơ sở và chi phối hành vi hiện thực và những sự kiện quan sát được, nói cách khác, đó là hệ thống những giá trị.

 

Nhiệm vụ của nhân chủng học tri nhận là nghiên cứu giải thích bằng cách nào hình thành cái cách đặc biệt mà một dân tộc có thể tri giác bản thân mình và tri giác thế giới bên ngoài, và bằng cách nào sự tri giác đó ảnh hưởng đến hoạt động và hành vi của con người. Nhân chủng học tri nhận đặt vấn đề nghiên cứu cấu trúc của bức tranh thế giới, nghĩa là nghiên cứu cách nhìn thế giới đặc trưng cho dân tộc này hay dân tộc khác, đó cũng là cách các thành viên của xã hội quan niệm về chính bản thân mình và về những hành động và hoạt động của mình trong thế giới. Nếu khoa dân tộc tâm lí học nhìn nhận “tính dân tộc” trong nền văn hóa theo quan điểm của người quan sát bên ngoài, thì nhân chủng học tri nhận nhìn bức tranh thế giới từ bên trong bằng con mắt của người mang nền văn hóa, hiểu và miêu tả thế giới của con người thuộc các xã hội khác bằng chính những thuật ngữ của họ, nghĩa là miêu tả cách họ tri giác và trải nghiệm thế giới trong kinh nghiệm của họ.

 

Nhân chủng học tri nhận có đối tượng nghiên cứu là hệ thống tổ chức tinh thần của các yếu tố văn hóa, chứ không phải bản thân các yếu tố văn hóa. Điều này hàm chỉ rằng mỗi dân tộc có hệ thống tri giác, tư duy, hành vi, cảm xúc của riêng mình. Việc nhận thức thế giới phụ thuộc vào những tín hiệu từ thế giới bên ngoài nhập vào não bộ của chủ thể tri giác và được xử lí theo quá trình tri nhận (cognition). Bản chất của quá trình này là nhóm họp những tín hiệu được tri giác thành các lớp trên cơ sở những những thuộc tính biểu vật do nền văn hóa quy định, chúng được gọi là những phạm trù tri nhận. Do đó có thể hiểu văn hóa là vật chứa những phạm trù tri nhận của con người – cơ sở của sự hiện thực hóa quá trình nhận thức dẫn tới việc ngữ nghĩa hóa (hiểu) tổ chức tinh thần của hiện thực.

 

Trước kia những công trình nghiên cứu nhân chủng học tri nhận khẳng định quan niệm về tri thức văn hóa mang tính chất hình hệ và phân loại. Thực chất hoạt động nghiên cứu của các nhà nhân chủng học tri nhận hướng tới xác lập những hệ thống phân loại tồn tại trong nền văn hoá tộc người. Cụ thể là đã nghiên cứu các hệ thống thuật ngữ dòng tộc, phân loại các màu, phân loại động vật, thực vật, thực phẩm, bệnh tật v.v. Chẳng hạn, việc nghiên cứu phân tích những phạm trù màu ở các dân tộc khác nhau đã phát hiện những phổ quát văn hóa trong lĩnh vực này. Việc phân loại màu sắc đã xác lập từ hai đến sáu phạm trù cơ sở, mỗi yếu tố tiếp theo sau trong dãy màu bị quy định bởi sự hiện diện trong hệ thống phạm trù của yếu tố trước đó: trắng – đen – đỏ - vàng (hoặc xanh lá cây) – xanh thẫm - nâu.

 

Hiện nay những thuật ngữ cơ bản của nhân chủng học tri nhận là sơ đồ, khung, kịch bản sự kiện.

 

Lí thuyết sơ đồ là lí thuyết về tri thức, về cách biểu tượng và sử dụng chúng. Theo lí thuyết sơ đồ, tất cả mọi tri thức đều được xếp vào những cấu trúc nhất định gọi là các sơ đồ. Thông tin về cách sử dụng tri thức cũng được gọi là tri thức. Sơ đồ là cấu trúc của những dữ liệu. Sơ đồ biểu tượng cho những khái niệm chung được lưu giữ trong “bộ nhớ văn hóa”. Có những sơ đồ biểu tượng tri thức về thế giới: các thực thể, tình huống, sự kiện, các chuỗi sự kiện, chuỗi hành động.

 

Những tư tưởng quan trọng nhất trong lí thuyết sơ đồ là: sơ đồ tri nhận liên kết văn hóa với tâm lí của con người, định hướng hành động của con người. Sơ đồ tri nhận là phương tiện vô thức dùng để tường giải các sự kiện, bắt con người nhìn thấy thế giới dưới góc độ văn hóa nhất định và hành động phù hợp với cách tường giải văn hóa về các sự kiện.

 

Vấn đề tri nhận xã hội có tầm quan trọng đặc biệt. Việc phạm trù hóa xã hội tác động tích cực đến các sơ đồ xã hội mà các cá thể áp dụng trong giao tiếp liên nhóm.

 

Tóm lại, khái niệm sơ đồ trong nhân chủng học tri nhận về mặt phương pháp luận giống với những khái niệm khung (frame), kịch bản (scenario) v.v. được dùng trong tâm lí học và ngôn ngữ học tri nhận cũng như trong khoa học về trí tuệ nhân tạo. Điều này được giải thích bởi giá trị của vấn đề biểu tượng tinh thần của kinh nghiệm – vấn đề trung tâm của tất cả khuynh hướng khoa học kể trên.

 

 

 

BỨC TRANH NGÔN NGỮ VỀ THẾ GIỚI (linguistic worldview)

 

Ngôn ngữ học tri nhận đang đứng trước những vấn đề khoa học nan giải và đang tìm cách "giải mã" chúng. Một trong số những vấn đề đó là: Thế giới khách quan có phải là nguồn nhận thức trực tiếp của con người không hay phải thông qua một cơ chế nào? Con người nhận thức thế giới có nhất thiết phải nhờ vào ngôn ngữ không hay có thể nhận thức thế giới không cần dựa vào ngôn ngữ? Tất nhiên ai cũng thừa nhận thế giới khách quan là thống nhất (là một) cho tất cả mọi người. Thế giới này là khách quan, nó tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người. Song mỗi người nhìn cái thế giới khách quan đó bằng con mắt của mình mà tất cả các con mắt đâu phải đều giống nhau, do đó mỗi người tạo cho mình một bức tranh thế giới riêng mang tính chủ quan (thế giới có bao nhiêu người thì có bấy nhiêu bức tranh thế giới!)[1]. Nói theo thuật ngữ khoa học, mỗi người mô hình hoá thế giới theo kiểu của mình. Nhưng đại thể người ta phân biệt hai loại bức tranh thế giới lớn: bức tranh khoa học về thế giới và bức tranh ngôn ngữ về thế giới. Có những học giả cho rằng (và cũng không phải không có cơ sở) loại một do các nhà bác học tạo ra, loại hai do những "người dân thường" tạo ra (do đó nó còn có những tên gọi khác như "bức tranh dân dã", "bức tranh ngây thơ" v.v.). Để có bức tranh loại một các nhà bác học không cần phải dựa vào ngôn ngữ, còn loại hai, tất nhiên, như tên gọi của nó, "người dân thường" phải dùng chất liệu ngôn ngữ mới vẽ ra được. Loại một cung cấp những kiến thức phổ quát được gọi là kiến thức bách khoa, loại hai cung cấp những kiến thức đặc thù mang tính dân tộc được gọi là kiến thức ngôn ngữ. Sự đối lập giữa kiến thức bách khoa và kiến thức ngôn ngữ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, bằng chứng là có hai loại từ điển khác nhau: từ điển bách khoa và từ điển ngôn ngữ.

 

Ngoài thế giới khách quan có thể quan sát trực tiếp được còn có những thế giới đầy màu sắc chủ quan do bộ óc của con người tưởng tượng ra không thể quan sát trực tiếp được, nhưng chúng cũng được xây dựng bằng những ý niệm đặc biệt: đó là thế giới linh hồn (tâm linh), thế giới huyền bí với những thiên đường, địa ngục, thượng đế, thần thánh, ma quỷ, Phật Bồ Tát, Chúa Trời v.v.

 

Bức tranh ngôn ngữ và bức tranh khoa học về thế giới

 

Ngôn ngữ học tri nhận phân biệt hai loại bức tranh về thế giới: bức tranh ngôn ngữ và bức tranh khoa học.

 

1. Bức tranh khoa học về thế giới

 

Bức tranh khoa học về thế giới được hình thành nhờ những khái niệm logic phản ánh sự nhận thức của con người về thực tại khách quan. Bức tranh khoa học về thế giới thường được phản ánh trong hai loại từ điển: từ điển ngôn ngữ và từ điển bách khoa. Chẳng hạn, từ "nguyên tử" được giải thích trong từ điển ngôn ngữ như sau: "Phần tử nhỏ nhất của nguyên tố hoá học, gồm một hạt nhân ở giữa và một hay nhiều electron chung quanh" ("Từ điển tiếng Việt" 1922: 689). Từ điển bách khoa giải thích: "Tiếng Hi Lạp átomos - không chia ra được) phần nhỏ nhất của nguyên tố hoá học lưu giữ những thuộc tính của nó. Ở trung tâm nguyên tử có hạt nhân điện tích dương. Hạt nhân chứa hầu hết toàn bộ khối lượng của nguyên tử. Chung quanh hạt nhân có các electron chuyển động, tạo thành cái vỏ electron, kích thước của nó: ~ 10-8 cm. Hạt nhân nguyên tử gồm proton và neutron. Số lượng electron trong nguyên tử bằng số lượng proton trong hạt nhân (điện tích của tất cả electron của nguyên tử bằng điện tích của hạt nhân). Số lượng proton bằng số thứ tự của nguyên tố trong hệ thống tuần hoàn Mendeleev. Cách thuyết giải khái niệm nguyên tử trong từ điển ngôn ngữ hẹp hơn so với từ điển bách khoa, song cả hai từ điển đều có quan niệm chung là xem nguyên tử như một khái niệm khoa học. Do đó bức tranh được vẽ ra trong hai từ điển này là bức tranh khoa học về thế giới.

 

2. Bức tranh ngôn ngữ về thế giới

 

Bức tranh ngôn ngữ về thế giới là biểu hiện thế giới quan của con người được phác hoạ bằng những chất liệu ngôn ngữ. Do chỗ ngôn ngữ có liên quan mật thiết với những đặc trưng văn hóa-dân tộc của người bản ngữ, nên bức tranh được vẽ ra phản ánh một mảng của đời sống người bản ngữ với những gam màu đặc trưng cho nền văn hóa dân tộc. Đối tượng của bức tranh ngôn ngữ về thế giới là ý niệm với cấu trường trung tâm - ngoại vi. Nằm ở trung tâm của cấu trúc ý niệm là khái niệm, nằm ở ngoại vi là những đặc trưng văn hóa-dân tộc bao quanh khái niệm. Trở lại với từ "nguyên tử" đã cho, chúng ta hiểu nội dung khái niệm nguyên tử như đã được thuyết giải trong các từ điển. Song, trong thực tế, nguyên tử chưa đi vào đời sống văn hóa của người Việt Nam. Chưa mấy ai hiểu nguyên tử là cái gì, ngoại trừ số học sinh được học trong nhà trường hoặc các chuyên gia thuộc lĩnh vực này. Tuy vậy, trong đời thường, người Việt cũng đã nghe thấy nhiều về nguyên tử (qua các phương tiện thông tin đại chúng), song hình dung nó như một cái gì ghê gớm, mang lại chết chóc cho con người: bom nguyên tử, tên lửa mang đầu đạn hạt nhân, rồi Hiroshima, Nagasaki với hình ảnh cột khói hình nấm, rồi vụ nổ nhà máy điện nguyên tử Chernobyl (Чернобыл), vụ đắm tàu ngầm nguyên tử Kursk (Курск) v.v. Như vậy, bức tranh ngôn ngữ về nguyên tử do người dân thường "vẽ" ra toàn mang màu sắc ảm đạm, chết chóc. Cái bức tranh này phản ánh sự hiểu biết về nguyên tử của người dân thường. Nó khác hoàn toàn với bức tranh khoa học về nguyên tử.

 

Phương thức ý niệm hoá hiện thực (cách nhìn thế giới) một phần có tính phổ quát, một phần có tính đặc thù dân tộc, bởi thế những người nói những thứ tiếng khác nhau có thể nhìn thấy thế giới hơi khác nhau, thông qua lăng kính ngôn ngữ của mình.

 

Bức tranh ngôn ngữ về thế giới phản ánh bức tranh thế giới tồn tại cho tất cả mọi người và cho mỗi người. Đối với tôi, với anh, hay đối với bất kì người nào trên trái đất, dù đó là người Việt, người Anh, người Pháp, người Nga, mặt trời, mặt trăng, ngôi sao, núi, sông, cây, cỏ v.v. đều khách quan tồn tại như nhau, và ngôn ngữ nào cũng có những từ để chỉ những vật thể ấy. Ví dụ, tiếng Việt: mặt trời, tiếng Anh: sun, tiếng Pháp: soleil, tiếng Nga: солнце, và ai cũng hiểu đó là "thiên thể nóng, sáng, ở xa Trái Đất, là nguồn chiếu sáng và sưởi ấm chủ yếu cho Trái Đất" (Từ điển tiếng Việt 1992). Đó là cái phổ quát.

 

Theo Iakovleva, "bức tranh ngôn ngữ về thế giới là một sơ đồ tri giác hiện thực được ghi lại trong ngôn ngữ và là đặc trưng cho một cộng đồng ngôn ngữ nào đó. Do đó bức tranh ngôn ngữ về thế giới là một cách nhìn thế giới thông qua lăng kính ngôn ngữ" (Яковлева 1996).

 

Hình ảnh thế giới được ghi lại trong ngôn ngữ trong nhiều trường hợp rất khác với bức tranh khoa học về thế giới. Ví dụ, khi ta nói "Trăng lên, trăng đứng, trăng tàn" (thơ Tố Hữu) là ta bất chấp quan niệm khoa học về sự vận động khách quan của mặt trăng. "Trời tròn đất vuông" là quan niệm triết học thời cổ xưa rõ ràng không phù hợp với thế giới quan khoa học ngày nay. Hoặc khi toán học khẳng định đường thẳng là ngắn nhất, thì người dân bình thường lại nói khác: "đường vòng là đường ngắn nhất" (ý nói khi giải quyết một vấn đề xã hội-hành chính nào đó, chẳng hạn, khi xin cấp hộ khẩu, cấp chủ quyền nhà v.v., muốn công việc được giải quyết nhanh chóng, không thể đến thẳng các cơ quan chức năng, mà phải qua dịch vụ, nghĩa là đi đường vòng), thì họ đã không tuân theo định nghĩa khoa học về đường thẳng.

 

Bức tranh ngôn ngữ về thế giới được phản ánh trong vốn từ vựng của ngôn ngữ có in đậm dấu vết của lối tư duy "dĩ nhân vi trung". Chẳng hạn, chân núi, miệng ống, đầu sông, đít chén, mũi thuyền, mắt bão, lưỡi lửa, ngón võ v.v. Những từ chân, miệng, đầu, đít, mũi, mắt, lưỡi, ngón là mượn của lớp từ chỉ thân thể con người, hay nói cách khác, theo ngôn ngữ học tri nhận, hiện thực đã được các bộ phận thân thể con người tri giác.

 

Bức tranh ngôn ngữ về thế giới còn được một số nhà nghiên cứu gọi là "mô hình (hoặc bức tranh) ngây thơ về thế giới" (Aprexian - Апресян 1986/1995). Bức tranh ngôn ngữ về thế giới được gọi là "ngây thơ" bởi lẽ cách nó thuyết giải những hiện tượng của hiện thực khác với cách thuyết giải của khoa học về cùng hiện tượng đó như những ví dụ vừa nêu trên. Tuy vậy những quan niệm ngây thơ tuyệt không phải là sơ đẳng, thô thiển, vô lí. Trong nhiều trường hợp nó không kém phức tạp, không kém thú vị so với cách nhìn khoa học. Chẳng hạn, người Việt nói: nghĩ bụng; bụng bảo dạ; bụng làm dạ chịu; thương người như thể thương thân; giữ lấy cái chân trong ban chấp hành; qua mặt ai đó; uốn lưỡi bảy lần; v.v. Bức tranh ngây thơ không phải là một tập hợp những mảng lộn xộn, ô hợp, vô trật tự, vô tổ chức, mà là một sự sắp xếp các biểu tượng ngôn ngữ một cách có hệ thống. Cách sắp xếp (tổ chức) như vậy gọi là ý niệm hoá thế giới. Miêu tả và thuyết giải các ý niệm trong tính hệ thống của nó là nhiệm vụ của ngôn ngữ học tri nhận.

 

Iu. D. Aprexjan đã tiến hành miêu tả và thuyết giải bức tranh ngây thơ về con người (ý niệm hoá thế giới con người) theo 8 hệ thống chính sau đây:

 

1) Tri giác vật lí (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác). Hệ thống tri giác này định vị trong các giác quan: (mắt, tai, mũi, lưỡi, da). Nét nghĩa tối giản: "tri giác".

 

2) Trạng thái sinh lí (đói, khát, mong muốn, những nhu cầu sinh lí, đau v.v.). Chúng định vị ở những bộ phận khác nhau của thân thể. Nét nghĩa tối giản: "cảm nhận".

 

3) Phản ứng sinh lí đối với những tác động bên trong và bên ngoài (tái mặt, lạnh, kiến bò, đỏ mặt, nóng,đổ mồ hôi, tim đập v.v.). Phản ứng của những bộ phận khác nhau của thân thể (mặt, trái tim, họng) hoặc của thân thể nói chung. Nét nghĩa tối giản - không có.

 

4) Hành động và hoạt động vật lí (làm việc, nghỉ ngơi, đi, đứng, nằm, ném, vẽ, dệt, chặt, cắt, đâm, bẻ v.v.). Chúng được thực hiện nhờ tứ chi và thân thể. Nét nghĩa tối giản: "làm".

 

5) Mong muốn (muốn, vươn tới, thèm, không chịu nổi, nén lòng, buộc phải, cám dỗ, quyến rũ v.v.). Chúng định vị hoặc là trong thân thể, hoặc là trong lòng. Nét nghĩa tối giản: "muốn".

 

6) Tư duy, hoạt động trí tuệ (tưởng tượng, hình dung, cho (rằng), hiểu, ý thức, biết, tin, nghi, nhớ, quên v.v.). Hoạt động trí tuệ định vị trong ý thức (trong đầu, trong bộ não) và được thực hiện cũng chính nhờ những cơ quan này. Nét nghĩa tối giản: "biết", "cho (rằng)".

 

7) Cảm xúc (sợ, sung sướng, giận, yêu, căm thù, hi vọng, thất vọng v.v.). Ở con người, tất cả những cảm xúc đều định vị trong lòng, tim hoặc ngực. Nét nghĩa tối giản: "cảm thấy".

 

8) Lời nói (thông báo, hứa, yêu cầu, đòi hỏi, ra lệnh, cấm, cảnh báo, khuyên, tuyên bố, chửi, khen, kêu ca, khoe khoang v.v.). Lời nói được thực hiện nhờ cái lưỡi. Nét nghĩa tối giản: "nói".

 

Thử phân tích sự ý niệm hoá ngôn ngữ trong lĩnh vực cảm xúc. Điều cực kì quan trọng mà chúng ta cần chú ý là quan hệ của cảm xúc đối với ý niệm ánh sáng. Những cảm xúc dương tính (tích cực) nói chung như yêu, sung sướng, hạnh phúc, hân hoan được ý niệm hoá như là những cảm xúc sáng sủa, còn những cảm xúc âm tính (tiêu cực) như ghét, buồn, thất vọng, tức, nổi điên, giận dữ, sợ hãi, kinh hoàng là những cảm xúc đen tối. Chính sự kích hoạt ánh sáng quy định cách dùng của chúng ta trong những trường hợp như:

 

Ánh sáng của tình yêu.

 

Đôi mắt rực sáng/sáng lên vì sung sướng/vì tình yêu.

 

Khuôn mặt của nàng rạng rỡ vì sung sướng.

 

Tình yêu chiếu sáng khuôn mặt của nàng.

 

Em là tia sáng của đời anh.

 

Nguợc lại:

 

Khuôn mặt anh ta tối sầm lại vì tức giận.

 

Đôi mắt mờ đi trong nước mắt.

 

Cơn lũ làm nước sông đục ngầu.

 

Cuộc đời tăm tối vì cực khổ.

 

Sự ý niệm hoá diễn ra như một quá trình, do đó bức tranh ngôn ngữ về thế giới cần được xem như là một bức tranh động, không như một bức tranh tĩnh vật: có những mảng nào đó của nó đang được hình thành, đang hiện ra cùng với thời gian, và ngược lại, cũng có những mảng nào đó thay đổi, mờ đi, tối lại, do đó ảnh hưởng đến cách dùng ngôn ngữ của chúng ta.

 

Trong tiếng Việt ngày nay có một loạt từ vốn chỉ những thuộc tính âm tính (xấu) ở mức độ cao, chẳng hạn, kinh khủng, khủng khiếp, dễ sợ, kinh ngạc, kinh hồn v.v. (cảnh tượng này thật là kinh khủng; những tiếng nổ kinh hoàng; đứa bé với bộ mặt dễ sợ). Song trong những điều kiện (ngôn сảnh) nhất định, chúng biến thành những từ có giá trị tăng cường mức độ dương tính (tốt) với nghĩa "rất" hoặc "quá" khi chúng kết hợp với những từ chỉ thuộc tính dương tính. Ví dụ, với từ "đẹp" có thể nói: đẹp kinh khủng, đẹp khủng khiếp, đẹp dễ sợ, đẹp đến kinh ngạc, đẹp kinh hồn, thậm chí đẹp chết người. Hoặc có thể nói: Được gặp cậu ở đây tớ sung sướng kinh khủng/đến phát điên lên được.Và điều này không làm cho người Việt ngày nay cảm thấy ngạc nhiên, nghĩa là họ chấp nhận cách dùng này như những biểu thức của ngôn ngữ tự nhiên.

 

Các nhà triết học cho rằng "các ranh giới của ngôn ngữ tôi quy định các ranh giới của thế giới tôi". Giả thuyết tương đối ngôn ngữ học Sapir-Whorf chủ trương rằng "cấu trúc của ngôn ngữ quy định cấu trúc của tư duy". Theo Aprexian (Апресян), thì "những người mang các ngôn ngữ khác nhau có thể nhìn thấy thế giới hơi khác nhau qua lăng kính các ngôn ngữ của mình".

 

Những quan sát sau đây (dẫn theo Aprexian - Апресян 1995) cho thấy sự khác nhau trong những liên tưởng và phản ứng đối với màu sắc phản ánh đặc thù văn hoá của ngôn ngữ dân tộc. Những dữ liệu này đã được kiểm tra bằng thực nghiệm khi vận hành computer với màn hình màu:

 

Màu đỏ ở Mĩ liên tưởng tới sự nguy hiểm, ở Pháp - quý tộc, ở Ai Cập - sự chết chóc, ở Ấn Độ - sự sống và sáng tạo, ở Nhật - sự nổi giận và nguy hiểm, ở Trung Quốc - hạnh phúc;

 

Màu xanh da trời ở Mĩ liên tưởng tới sự dũng cảm, ở Pháp - tự do và hoà hình, ở Ai Cập - lòng tin, đức hạnh và chân lí, ở Nhật - sự đểu giả, ở Trung Quốc - bầu trời và mây;

 

Màu xanh lá cây ở Mĩ - sự an toàn, ở Pháp - tội ác, ở Ai Cập - mầu mỡ và sức mạnh, ở Ấn Độ - mầu mỡ và thịnh vượng, ở Nhật - tương lai, tuổi trẻ và mạnh mẽ, ở Trung Quốc - Triều Minh, bầu trời và mây;

 

Màu vàng ở Mĩ - hèn nhát, ở Pháp - tạm thời, ở Ai Cập - hạnh phúc và thịnh vượng, ở Ấn Độ - có kết quả, ở Nhật - kiều diễm và cao thượng, ở Trung Quốc - sinh đẻ, giàu có và quyền lực;

 

Màu trắng ở Mĩ - sạch sẽ, ở Pháp - trung hoà, ở Ai Cập - niềm vui, ở Ấn Độ - sự chết chóc và sạch sẽ, ở Nhật - sự chết chóc, ở Trung Quốc - chết chóc và sạch sẽ.

 

Những sự khác nhau trong các phản ứng đối với màu sắc mang tính chất văn hoá này rất quan trọng cần phải tính đến khi thiết kế màn hình computer để sử dụng ở những khu vực khác nhau thuộc phương Đông và phương Tây.

 

Ngôn ngữ học tri nhận xem hình thái chính có chức năng hình thành và cố định kiến thức của chúng ta về thế giới là ngôn ngữ tự nhiên của con người và đó cũng chính là cái nguồn để nghiên cứu bản thân những kiến thức này thông qua những bức tranh ngôn ngữ về thế giới.

 

 

 

Ý NIỆM (concept)

 

Khái niệm "ý niệm" đã tồn tại từ thời Trung Cổ. Pierre Abélard[2] (1079-1142) đã khảo sát khái niệm này và cho đó là một hình thức "chộp lấy" ý nghĩa, một hành động mang nặng tính chủ quan. Theo ông, ý niệm là một tập hợp những khái niệm nằm sâu kín trong tâm hồn và sẵn sàng được biểu hiện thành lời, nó liên kết các phát ngôn thành một cách nhìn sự vật này khác với vai trò quyết định của trí tuệ, nó biến phát ngôn thành tư tưởng gắn liền với Thượng Đế.

 

Hành động tạo ra ý niệm được các nhà tư tưởng thời Trung Cổ tiếp nhận như là việc con người tiến đến với tư tưởng của Thượng Đế vốn được xem là chân lí. Các nhà nghiên cứu di sản của Abélard khẳng định rằng ý niệm là kết quả của tinh thần, của trí tuệ cao cả có khả năng tái tạo một cách sáng tạo, hoặc tập hợp những ý nghĩa với tư cách là những phổ quát được hiểu như mối liên hệ giữa vật và lời nói. Ý niệm chứa đựng suy nghĩ vốn là một bộ phận của nó. Ý niệm là lời nói được phát ngôn ra, do đó nó không đồng nhất với khái niệm.

 

Tư tưởng Trung Cổ đã có bàn đến ý niệm, theo đó ý niệm được hình thành nhờ có lời nói. Lời nói được thực hiện trong không gian của tâm hồn. Ý niệm có tính chủ quan cao độ. Con người trong khi suy nghĩ về sự vật, luôn hướng về chủ thể khác (người nghe, người đọc). Hướng về người nghe có nghĩa là đồng thời hướng về nguồn gốc của lời nói - đó là Thượng Đế. Trí nhớ và óc tưởng tượng là những thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm. Một mặt, ý niệm hướng tới sự thấu hiểu ở đây và bây giờ, mặt khác, nó là sự tổng hợp của ba khả năng của tâm hồn: với tư cách là trí nhớ, ý niệm định hướng về quá khứ, với tư cách là hành động của óc tưởng tượng, nó hướng về tương lai, còn với tư cách là hành động phán đoán - nó hướng về hiện tại.

 

Trên đây đã trình bày quan niệm của người xưa về ý niệm. Ngày nay tất nhiên người ta không chấp nhận hành động tạo ra ý niệm là bước đến gần với tư tưởng của Thượng Đế vốn được coi là chân lí tuyệt đối. Tư tưởng chỉ đạo của ngôn ngữ học tri nhận là khẳng định nguyên tắc "dĩ nhân vi trung" trong các nghiên cứu của mình, hàm chỉ con người là trung tâm của tất cả những hiện tượng văn hoá và ngôn ngữ. Chính ý thức của con người đóng vai trò kẻ trung gian giữa văn hoá và ngôn ngữ, còn ý niệm hoạt động với tư cách là đơn vị của những tiềm năng tinh thần hoặc tâm lí của ý thức con người. S.Kh. Liapin 1997 nhận xét rằng khi con người sống, giao tiếp, hành động trong thế giới những khái niệm, những hình ảnh, những khuôn mẫu hành vi, giá trị, tư tưởng v.v., thì đồng thời cũng là sống, suy nghĩ, giao tiếp trong thế giới của những ý niệm.

 

Ý niệm - đơn vị cơ bản của tính tinh thần

 

Trong ngôn ngữ học tri nhận (kể cả trong một số khoa học khác như nhân chủng học, ngôn ngữ-văn hoá học, dân tộc-ngôn ngữ học v.v.) các nhà nghiên cứu định nghĩa ý niệm theo những quan điểm khác nhau: ý niệm là biểu tượng (Askoldov); là khái niệm, là đơn vị tổng hợp của tư duy, là sự phản ánh trọn vẹn, không chia cắt được một hiện tượng của hiện thực (Tsesnokov); là ý nghĩa, biểu thức "đại số" của ý nghĩa (Likhatsov); là đồng ý nghĩa mang bản sắc dân tộc (Коlexov); là nguyên dạng của ý nghĩa từ vựng (Rakhilina); là hạt nhân, là điểm xuất phát của sự tích luỹ ngữ nghĩa của từ (Wierzbicka), là sự tổng hợp cái nội dung (ý nghĩa và khái niệm), cái biểu đạt (kí hiệu ngôn ngữ) và cái được biểu đạt (cái biểu vật và vật quy chiếu).

 

М.V. Pimenova đưa ra một định nghĩa về ý niệm như sau: "Ý niệm là đơn vị thuộc cấp độ vị (kiểu như âm vị, hình vị, từ vị v.v.) được biểu tượng nhờ cái biểu niệm (nội dung và khối lượng của khái niệm), ý nghĩa từ vựng và hình thái bên trong của từ (phương thức biểu hiện nội dung ngoài ngôn ngữ)".

 

Trong những định nghĩa đó, nổi lên hai cách hiểu đối lập nhau về ý niệm: 1) đồng nhất ý niệm với khái niệm (theo cách hiểu "vật - cảm giác - tri giác - biểu tượng - khái niệm"; 2) đối lập ý niệm với khái niệm. Tình hình này rất bất lợi cho việc nghiên cứu những vấn đề của ngôn ngữ học tri nhận.

 

Sự khác nhau giữa “ý niệm” và “khái niệm”

 

Về mặt nguồn gốc của thuật ngữ, khái niệm và ý niệm đều xuất phát từ một từ tiếng Anh: concept. Trong quá trình phát triển của khoa học tri nhận nói chung, ngôn ngữ học tri nhận nói riêng, nội hàm của từ concept được tách làm đôi: một phần được hiểu là khái niệm, một phần là ý niệm (tiếng Nga có sự phân biệt này: khái niệm là понятие, còn ý niệm là концепт).

 

Khái niệm là một hình thức của tư duy phản ánh những thuộc tính cơ bản, những mối liên hệ và quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng trong sự mâu thuẫn và phát triển của chúng. Khái niệm không chỉ trừu suất cái chung, mà còn phân suất sự vật, những thuộc tính và quan hệ của chúng làm cơ sở cho việc phân loại phù hợp với những nét khu biệt của chúng. Chẳng hạn, khái niệm “con người” phản ánh cả nét chung cơ bản (cái vốn có ở tất cả mọi người) và cả những nét khu biệt người này với tất cả những người khác. Khái niệm phản ánh cái chung, cái đặc thù và cái đơn nhất của sự vật.

 

Khái niệm được hình thành qua một quá trình biện chứng phức tạp nhờ những phương pháp như so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, lí tưởng hóa, khái quát hóa, thí nghiệm v.v. Khái niệm là sự phản ánh hiện thực không mang tính hình ảnh và được biểu hiện trong từ. Sự tồn tại hiện thực của nó được bộc lộ thông qua các định nghĩa, trong các phán đoán, trong thành phần của lí thuyết.

 

So với khái niệm, ý niệm có những đặc điểm riêng.

 

Trước hết nó là kết quả của quá trình tri nhận là quá trình tạo ra các biểu tượng tinh thần (mental representation). Cấu trúc của biểu tượng tinh thần gồm ba thành tố: trí tuệ, cảm xúc và ý chí, cả ba thành tố này đều được biểu hiện trong ngôn ngữ: trong ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp (trong ba thành tố này, thì từ vựng tinh thần đã và đang được nghiên cứu nhiều hơn cả).

 

Khái niệm (thuật ngữ) khoa học không mang tính ẩn dụ. Mặt trời là mặt trời, là một “thiên thể nóng sáng, ở xa Trái Đất, là nguồn chiếu sáng và sưởi ấm chủ yếu cho Trái Đất” (Từ điển tiếng Việt 1992: 616), hoặc con cáo là con cáo, một “loài thú ăn thịt, sống ở rừng, gần với chó, nhưng chân thấp, tai to và mõm nhọn, rất tinh khôn” (Từ điển tiếng Việt 1992: 126). Còn những cách nói như: “Mặt trời mọc, mặt trời lặn”, “Mặt trời trắng trên sa mạc”, “Em là mặt trời của anh”, “Nó là một con cáo già” v.v., cách nói bóng bẩy, có tính ẩn dụ như thế không thể hiện khái niệm, mà là phản ánh đặc trưng của ý niệm.

 

Ca từ của một bài hát như sau:

 

 “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

 

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

 

Trong câu thứ nhất, từ “mặt trời” biểu hiện khái niệm, trong câu thứ hai, từ “mặt trời” biểu hiện ý niệm.

 

Nói rộng ra, ý niệm là đơn vị tinh thần hoặc tâm lí của ý thức chúng ta, là đơn vị nội dung của bộ nhớ động, của từ vựng tinh thần và của ngôn ngữ bộ não (lingua mentalis), của toàn bộ bức tranh thế giới được phản ánh trong tâm lí con người. Trong các quá trình tư duy, con người dựa vào các ý niệm phản ánh nội dung các kết quả của hoạt động nhận thức thế giới của con người dưới dạng “những lượng tử” của tri thức. Các ý niệm nảy sinh trong quá trình cấu trúc hoá thông tin về một sự tình khách quan trong thế giới, cũng như về những thế giới tưởng tượng và về sự tình khả dĩ trong những thế giới đó. Các ý niệm quy cái đa dạng của những hiện tượng quan sát được và tưởng tượng về một cái gì đó thống nhất, đưa chúng vào một hệ thống và cho phép lưu giữ những kiến thức về thế giới.

 

Theo một số học giả, chính ngôn ngữ bảo đảm cách tiếp cận với sự miêu tả và xác định bản chất của ý niệm. Những ý niệm đơn giản nhất được biểu hiện bằng một từ, những ý niệm phức tạp hơn được biểu hiện trong các cụm từ và câu. A. Wierzbicka 1985 viết rằng, việc phân tích hệ thống từ vựng của các ngôn ngữ có thể giúp phát hiện một số lượng không lớn những “phần tử sơ đẳng” kiểu như AI ĐÓ, CÁI GÌ ĐÓ, VẬT, CHỖ v.v., nếu đem hợp chúng lại thì có thể miêu tả toàn bộ thành phần từ vựng của ngôn ngữ.

 

Những người khác cho rằng một phần của thông tin ý niệm có cái “đuôi” ngôn ngữ, nghĩa là những phương thức biểu hiện chúng, nhưng cái phần thông tin này được biểu hiện trong tâm lí hoàn toàn khác, nghĩa là bằng những biểu tượng tinh thần loại khác - những hình tượng, những bức tranh, những sơ đồ v.v. Chẳng hạn, chúng ta biết phân biệt cây thông với cây tùng không phải bởi vì chúng ta hình dung chúng như những tập hợp những nét khu biệt, hoặc như những tổ hợp ý niệm khác nhau, mà chỉ là bởi vì chúng ta phân biệt chúng nhờ thị giác một cách dễ dàng và bởi vì những ý niệm về các cây này được thể hiện trước hết bằng hình ảnh (hình tượng).

 

Như chúng ta đã biết, quá trình nhận thức trải qua hai giai đoạn: cảm tính (bao gồm cảm giác và tri giác) và lí tính (bao gồm biểu tượng và khái niệm). Đơn vị nhỏ nhất của quá trình nhận thức là khái niệm. Trong khi đó quá trình tri nhận không chia giai đoạn rạch ròi như thế. Nó là quá trình tổng hợp những kết quả thu nhận được bắt đầu từ tri giác cảm tính thông qua năm giác quan của con người để rồi cuối cùng tạo ra những ý niệm – đơn vị nhỏ nhất của quá trình tri nhận.

 

Stepanov (Ю.С. Степанов 1997) cho rằng "khái niệm" là thuật ngữ của logich học và triết học, còn "ý niệm" là thuộc về logic toán học và văn hóa học. Ông định nghĩa ý niệm như sau: “Ý niệm tựa như một khối kết đông của nền văn hoá trong ý thức con người; dưới dạng của nó nền văn hoá đi vào thế giới ý thức (tư duy) của con người, và, mặt khác, ý niệm là cái mà nhờ đó con người – người bình thường, không phải là “người sáng tạo ra những giá trị văn hoá” – chính con người đó đi vào văn hoá, và trong một số trường hợp nhất định có tác động đến văn hoá”.

 

Slyshkin (Г.Г. Слышкин 2000) ghiên cứu những quan điểm khác nhau đối với ý niệm và nhận định rằng đặc điểm nổi bật có tính nguyên tắc của ý niệm là ở chỗ nó được xem như cơ sở để nghiên cứu tổng hợp ngôn ngữ và văn hoá, song bản thân nó không trực tiếp nằm trong phạm vi ngôn ngữ, cũng không nằm trong phạm vi văn hoá, và cũng không đồng thời nằm trong cả hai lĩnh vực này. Ý niệm là đơn vị của tư duy, là yếu tố của ý thức. Việc nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa ngôn ngữ và văn hoá sẽ không đầy đủ nếu thiếu cái khâu trung gian này. Thông tin văn hoá đi vào ý thức, ở đây nó được sàng lọc, được chế biến.

 

Trần Trương Mĩ Dung nghiên cứu tổng hợp ý kiến của nhiều tác giả về sự khác nhau giữa "ý niệm" và "khái niệm" như sau:

 

a) Ý niệm là sự kiện của lời nói, đó là lời nói được phát ngôn ra. Do đó nó khác với khái niệm.

 

b) Ý niệm gắn chặt với người nói và luôn định hướng đến người nghe. Người nói và người nghe là hai bộ phận cấu thành của ý niệm.

 

c) Ý niệm mang tính chủ quan với nghĩa nó là một mảng của “bức tranh thế giới”, nó phản ánh thế giới khách quan qua lăng kính của ý thức ngôn ngữ dân tộc. Do đó ý niệm mang tính dân tộc một cách sâu sắc.

 

d) Ý niệm là đơn vị của tư duy (ý thức) của con người. Hai thuộc tính không thể tách rời nhau của ý niệm là trí nhớ và tưởng tượng. Ý niệm là một hành động đa chiều: nếu là hành động của trí nhớ thì nó hướng về quá khứ, nếu là hành động của trí tưởng tượng, thì nó hướng tới tương lai, còn nếu là hành động phán đoán, thì nó hướng về hiện tại.

 

e) Ý niệm, khác với “khái niệm”, không chỉ mang đặc trưng miêu tả, mà còn có cả đặc trưng tình cảm-ý chí và hình ảnh. Ý niệm không chỉ suy nghĩ, mà còn cảm xúc. Nó là kết quả của sự tác động qua lại của một loạt những nhân tố như truyền thống dân tộc, sáng tác dân gian, tôn giáo, hệ tư tưởng, kinh nghiệm sống, hình tượng nghệ thuật, cảm xúc và hệ thống giá trị. Ý niệm tạo ra một lớp văn hoá trung gian giữa con người và thế giới. Nó được cấu thành từ tri thức tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo lí, luật pháp, phong tục tập quán và một số thói quen mà con người tiếp thu được với tư cách là thành viên của xã hội.

 

Tóm lại, ý niệm chứa đựng ba thành tố: thành tố khái niệm, thành tố cảm xúc-hình tượng và thành tố văn hoá. Hai thành tố sau mang tính dân tộc sâu sắc (Trần Trương Mĩ Dung 2005, tr. 62).

 

Ý niệm cơ sở và hệ thống ý niệm

 

Để cấu tạo hệ thống ý niệm cần phải giả định sự tồn tại một số ý niệm xuất phát, hoặc những ý niệm cơ sở từ đó sẽ phát triển tất cả những ý niệm còn lại. Những ý niệm cơ sở này tổ chức một không gian ý niệm và hoạt động như những chuẩn để phân chia không gian. Đó là những ý niệm đối tượng và các bộ phận của nó, sự vận động, những hành động, vị trí hoặc không gian, thời gian, thuộc tính v.v. Tổng hoà tất cả những ý niệm có trong trí tuệ của con người, sự tổ hợp chúng lại được gọi là hệ thống ý niệm.

 

 

 

Ý NIỆM HOÁ (conceptualization)

 

Ý niệm hóa thế giới là một trong những quá trình quan trọng nhất của hoạt động tri nhận của con người bao gồm việc ngữ nghĩa hóa thông tin nhận được và dẫn tới việc cấu tạo nên những ý niệm, những cấu trúc ý niệm và toàn bộ hệ thống ý niệm trong bộ não của con người. Mỗi một hành động riêng lẻ của việc ý niệm hóa thế giới là một ví dụ về cách giải quyết vấn đề, ở đó thể hiện những cơ chế suy luận, suy diễn và những thao tác logic khác.

 

Quá trình ý niệm hóa thế giới liên quan chặt chẽ với quá trình phạm trù hóa: cùng là hoạt động phân loại, nhưng chúng khác nhau về kết quả cuối cùng và/hoặc về mục đích hoạt động. Ý niệm hóa nhằm trừu suất những đơn vị tối giản nào đó của kinh nghiệm con người trong cách hiểu lí tưởng về mặt nội dung, còn phạm trù hóa thì nhằm kết hợp lại những đơn vị giống nhau hoặc đồng nhất về mặt nào đó thành những lớp lớn hơn.

 

Việc phân suất hiện thực theo quan điểm tri nhận xảy ra ngay cả trước thời kì phát triển ngôn từ của con người. Vào thời kì đó, việc phân loại khái niệm có liên quan đến hoạt động cảm giác-vận động của con người hơn là đến sự giao tiếp với những người khác. Với sự hình thành ngôn ngữ, việc tri nhận hiện thực có những hình thức mới cho phép vượt ra ngoài ranh giới của tri giác trực tiếp, đồng thời bảo đảm việc lưu trữ kinh nghiệm trong bộ nhớ của con người.

 

Liên quan đến vấn đề ý niệm, các nhà khoa học khẳng định rằng ý niệm là một mảng của thế giới do con người cắt ra bằng "lưỡi dao ngôn ngữ" để nhận thức. Một trong những đặc điểm của ngôn ngữ con người là tính gián đoạn, hay như Engels gọi: tính phân tiết. Tất nhiên cái đặc điểm này ảnh hưởng sâu sắc đến cách nhìn thế giới của con người, cụ thể là con người cắt thế giới ra từng mảng trong khi nhận thức nó cũng giống như muốn hiểu cơ thể con người thì phải phẫu thuật nó. Việc cắt thế giới ra thành từng mảng được gọi là ý niệm hoá thế giới. Điều cần nói ở đây là cái thế giới mà trong đó con người đang sống và đang nhận thức là tồn tại khách quan và thống nhất cho tất cả mọi người, còn việc chia cắt nó ra thì lại không thống nhất bởi cái "lưỡi dao ngôn ngữ" dùng để cắt không giống nhau ở các tộc người, các cộng đồng người mang những nền văn hoá khác nhau. Việc ý niệm hoá thế giới cho chúng ta những "bức tranh thế giới".

 

Lịch sử khoa học thế giới đã nói đến "bức tranh thế giới" từ lâu.

 

Trước hết là triết học. "Bức tranh thế giới" đã được các nhà triết học định nghĩa là "tổng hoà nội dung vật thể mà con người nắm được" (Jaspers[3]). Theo Aprexian (Апресян 1995), con người là đối tượng nghiên cứu hàng trăm năm nay của các nhà sinh lí học, tâm lí học, triết học và ngôn ngữ học. Thường họ phân thành bốn địa hạt nghiên cứu con người: tri giác, tinh thần, cảm xúc và ý chí. Hình ảnh con người được phục chế trên cơ sở những dữ liệu ngôn ngữ, phải làm thế nào để bức tranh được miêu tả đích thực là bức tranh ngôn ngữ, chứ không phải là bức tranh văn học, hay kí hiệu học, hay văn hoá học, hay triết học về con người.

 

Mỗi ngôn ngữ tự nhiên đều phản ánh một phương thức nhất định nhằm tri giác và tổ chức (ý niệm hoá) thế giới. Những ý nghĩa được biểu hiện trong ngôn ngữ tập hợp thành một hệ thống những quan điểm, hay còn gọi là "triết học tập thể" có tính chất bắt buộc đối với toàn bộ cộng đồng người bản ngữ.

 

Sư phục chế một mảng nào đó của bức tranh được xem là có giá trị chỉ khi cái mảng được phục chế đó được xác nhận không phải bởi những dữ liệu lẻ tẻ, mà bởi tổng hoà những sự kiện cho phép tạo dựng được hình ảnh toàn diện và không mâu thuẫn của một đối tượng nào đó.

 

Bức tranh thế giới là một khái niệm đa hình, đa dạng. Hiện nay các nhà nghiên cứu đã nêu lên sáu loại bức tranh thế giới: những bức tranh tôn giáo (thần thoại), khoa học, nghệ thuật, đạo đức, chính trị và ngôn ngữ. Người mang bức tranh ngôn ngữ về thế giới là dân tộc này hay dân tộc khác. Họ củng cố cách nhìn thế giới của mình theo quan điểm chủ quan của dân tộc mình. Khái niệm "bức tranh ngôn ngữ về thế giới" bắt nguồn từ triết học ngôn ngữ của nhà bác học người Đức nổi tiếng V. Humboldt là người chủ trương rằng trong ngôn ngữ tập trung tinh thần của nhân dân, thế giới quan của nhân dân. Các nhà nghiên cứu trước tác của Humboldt đều thống nhất với nhau ở chỗ bản chất của triết học ngôn ngữ của Humboldt liên quan đến học thuyết của ông về "hình thái bên trong" được xem như hình ảnh đầu tiên của bức tranh ngôn ngữ về thế giới.

 

 

 

CẤU TRÚC CỦA Ý NIỆM (structure of concept)

 

Ý niệm được hình thành trong ý thức của con người. Nó có cấu trúc nội tại của nó bao gồm một mặt là nội dung thông tin về thế giới hiện thực và thế giới tưởng tượng, mang những nét phổ quát, mặt khác, bao gồm tất cả những gì làm cho nó trở thành sự kiện của văn hoá, nghĩa là nó chứa đựng những nét đặc trưng văn hoá-dân tộc. Cơ sở của ý niệm là kinh nghiệm cảm tính trực tiếp mà con người thu nhận được thông qua quá trình tri giác thế giới bằng các cơ quan cảm giác, thông qua hoạt động tư duy và hoạt động giao tiếp dưới hình thức ngôn ngữ.

 

Ý niệm là một hình ảnh, nó có thể chuyển động từ một hình ảnh cảm tính sang một hình ảnh tư duy. Chẳng hạn, "lạnh" là một hình ảnh cảm tính, bởi đó là kết quả của một loại tri giác nhiệt độ (so sánh: lạnh, nóng, ấm, mát v.v.). Khi lạnh thì người ta run, hình ảnh cảm tính này chuyển sang hình ảnh tư duy trong ý niệm "sợ": lạnh run người ~ sợ run người, lạnh run cầm cập ~ sợ run cầm cập, lạnh quíu cả lưỡi ~ sợ quíu cả lưỡi v.v. "Lửa" là một hiện tượng thiên nhiên cũng như những hiện tượng thiên nhiên khác: "nước", "sấm chớp", "mưa", "gió", "bão" v.v. Song "lửa" phát ra hơi nóng (nhiệt độ), có thể làm cháy những sự vật xung quanh. Lửa có thể phát ra ánh sáng. Hình ảnh cảm tính đó của "lửa" có thể chuyển thành hình ảnh tư duy trong ý niệm "nhiệt tình": "ngọn lửa nhiệt tình", "ngọn lửa tình yêu", "ngọn lửa cách mạng". "Nhiệt tình của tuổi trẻ có thể đốt cháy dải Trường Sơn". "Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình" (bài hát).

 

Ý niệm có cấu trúc trường-chức năng được tổ chức theo mô hình trung tâm (hạt nhân) và ngoại vi. Có thể hình dung trường-chức năng của ý niệm như một vòng tròn to có chứa vòng tròn nhỏ tại tâm và những vòng tròn nhỏ khác giao nhau.

 

Có thể biểu diễn cấu trúc của ý niệm bằng sơ đồ sau đây:

 

 

 

 

Chú thích sơ đồ:

 

Hạt nhân là khái niệm, nằm ở trung tâm của trường-chức năng (vòng tròn nhỏ tô đậm tại tâm). Nó mang tính chất phổ quát, toàn nhân loại. Nằm ở ngoại vi (trong những vòng tròn nhỏ giao nhau) là những nét đặc thù văn hoá-dân tộc, trong đó yếu tố hàng đầu là giá trị, bởi lẽ nói đến văn hoá là nói đến những giá trị văn hoá (tinh thần và vật chất). Nét đặc thù văn hoá bao gồm: a) văn hoá toàn dân tộc, b) văn hoá các tộc người, c) văn hoá vùng, miền, địa phương, d) văn hoá riêng của các nhóm xã hội mà con người tham gia và chịu tác động về nhiều mặt, và cuối cùng đ) là văn hoá cá thể với những đặc điểm tạo thành nhân cách cá nhân như tình cảm, đạo đức, học vấn, kinh nghiệm sống và những đặc điểm tâm-sinh lí cá nhân.v.v.

 

Vậy ý niệm là "cái chứa đựng" sự hiểu biết của con người về thế giới được hình thành trong ý thức trong quá trình tri nhận và hiện thân trong ngôn ngữ. Trong ý niệm có cái phổ quát (khái niệm) và cái đặc thù (văn hoá được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau).

 

 

 

PHÂN LOẠI Ý NIỆM (classification of concepts)

 

Các nhà ngôn ngữ học tri nhận do nhận thức về ý niệm khác nhau, nên họ đã đề nghị những cách phân loại ý niệm không giống nhau. Cho đến nay tồn tại một số bảng phân loại ý niệm tuy không hẳn loại trừ nhau, nhưng cũng khó hợp nhất chúng lại. Xin dẫn ra ba kiểu phân loại sau đây.

 

1. Cách phân loại của X.А. Аskoldov (Аскольдов 1980). Ông phân chia các ý niệm thành hai loại: những ý niệm nghệ thuật (tồn tại trong lĩnh vực nghệ thuật) và những ý niệm nhận thức (tồn tại trong lĩnh vực khoa học). Tác giả định nghĩa ý niệm nghệ thuật như sau: "Một từ trong khi không gợi nên "những hình tượng nghệ thuật" nào cả, mà lại tạo ra ấn tượng nghệ thuật có kết quả làm phong phú đời sống tinh thần", nghĩa là từ tạo ra ý niệm. Ý niệm là hành động đòi hỏi phải tiếp tục xử lí (phân tích và tổng hợp), nó là hạt nhân của thao tác tư duy.

 

2. Cách phân loại của một số nhà nghiên cứu khác. Họ đề nghị phân loại ý niệm thành ba nhóm:

 

a) Nhóm ý niệm thuộc phạm vi cá nhân lịch sử, những sự kiện, các tổ chức quốc gia. Sau mỗi ý niệm là một ý nghĩa tri nhận nhất định, là thông tin, là giá trị văn hoá-lịch sử. Có thể thêm vào đó cả tính biểu cảm, sự đánh giá trong những trường hợp cụ thể.

 

b) Nhóm những ý niệm thuộc phạm vi địa danh học.

 

c) Nhóm những ý niệm thuộc phạm vi đời sống tinh thần và cảm xúc của con người, chẳng hạn, niềm tin, tình yêu, hiểu biết, tâm hồn, tinh thần, đạo Thiên Chúa, số phận, hi vọng, ước mơ v.v.

 

3. V.А. Маslova (Маслова 2005) chia ý niệm thành 9 loại:

 

a) thế giới - không gian, thời gian, số, tổ quốc, buổi sáng mù sương, đêm đông v.v.;

 

b) thiên nhiên và các hiện tượng thiên nhiên: nước, lửa, cây cối, hoa v.v.;

 

c) quan niệm về con người: người Nga mới, người trí thức, thiên tài, kẻ ngu dốt, kẻ mất trí, khách lãng du v.v.;

 

d) những ý niệm đạo đức: lương tâm, xấu hổ, tội lỗi, sự thật, chân lí, chân thành v.v.;

 

e) những ý niệm về quan hệ xã hội: tự do, ý chí, tình hữu nghị, chiến tranh v.v.;

 

f) những ý niệm cảm xúc: hạnh phúc, vui mừng v.v.;

 

g) thế giới vật thể tạo tác: chùa, nhà, quốc huy v.v.;

 

h) những ý niệm kiến thức khoa học: triết học, ngữ văn học, toán học v.v.;

 

i) những ý niệm nghệ thuật: kiến trúc, hội hoạ, âm nhạc, múa v.v.

 

Những cách phân loại ý niệm nêu trên không bao quát được toàn bộ thế giới mà con người nhận thức.

 

Để có thể đề xuất một cách phân loại khả dĩ, theo chúng tôi nghĩ, cần xuất phát từ những luận điểm sau đây:

 

1) Ý niệm là đơn vị cơ bản của hoạt động tri nhận của con người, nó biểu hiện sự hiểu biết (tri thức) của con người về thế giới đã được sàng lọc và đúc kết lại trong ý thức của con người nhờ bộ lọc tinh tế là ngôn ngữ và nền văn hoá của người bản ngữ. Ý niệm gắn bó với ngôn ngữ và văn hoá[4]. Trong ngôn ngữ và văn hoá có những yếu tố nhân loại mang tính phổ quát và những yếu tố dân tộc mang tính đặc thù, do vậy ý niệm cũng có hai loại: những ý niệm phổ quát và những ý niệm đặc thù dân tộc.

 

2) Ý niệm là một phạm trù lịch sử có khả năng biến đổi do hoạt động tri nhận của con người thường xuyên biến đổi để lĩnh hội những kiến thức mới về thế giới, ví dụ, ý niệm "đẹp" thay đổi qua thời gian. Quan niệm về cái đẹp ngày nay không như ngày xưa. Về số lượng ý niệm cũng thay đổi theo thời gian. Có một số ý niệm cũ sẽ dần mất đi, và sẽ xuất hiện những ý niệm mới.

 

3) Ý niệm không tồn tại riêng lẻ, chúng liên kết lại với nhau tuỳ theo lĩnh vực tri nhận của con người và tạo thành một hệ thống ý niệm. Mỗi một hệ thống ý niệm có một số ý niệm được coi là những ý niệm xuất phát hay những ý niệm cơ sở, còn những ý niệm khác được xem là những ý niệm phái sinh hoặc thứ cấp. Chúng được định nghĩa thông qua những ý niệm cơ sở. Việc định ra những ý niệm cơ sở là một vấn đề rất khó, đòi hỏi người nghiên cứu phải am hiểu phạm vi hoạt động của hệ thộng thống ý niệm đã cho.

 

4) Các ý niệm trong một hệ thống ý niệm không có ranh giới cách biệt rõ rệt. Thậm chí một số ý niệm của hệ thống này lại đồng thời có mặt trong hệ thống khác, do đó có thể nói rằng những hệ thống trong đó tồn tại các ý niệm là những hệ thống mờ, điều này cho phép người nghiên cứu khi phân loại ý niệm có thể sắp xếp một số ý niệm cùng một lúc vào những danh sách khác nhau.

 

Xuất phát từ những luận điểm nêu trên, chúng tôi đề nghị một cách phân loại ý niệm theo sơ đồ bộ ba: con người - vận động trong thời gian - vận động trong không gian.

 

Con người là một vũ trụ riêng, là một tiểu vũ trụ, đầy những huyền bí và kì ảo. Nếu nói vũ trụ đã sáng tạo ra con người, thì cũng với ý nghĩa đó, có thể nói con người đã sáng tạo ra vũ trụ. Con người tồn tại trong cái vũ trụ đã sinh ra nó, đó là cái vũ trụ khách quan, tồn tại độc lập với ý chí của con người, có trước, trong và sau con người, đồng thời cũng tồn tại trong cái thế giới do nó sinh ra. Cái thế giới do con người sinh ra là sản phẩm của ý thức của con người, của óc tưởng tượng của con người: thế giới thần thoại, huyền bí, thế giới tâm linh v.v. Ngôn ngữ học tri nhận khi nghiên cứu con người là nghiên cứu cả hai thế giới đó. Không một nền ngôn ngữ học nào trước đây dám đặt ra cho mình cái nhiệm vụ vô cùng phức tạp tưởng chừng như không khả thi đó. Song ngôn ngữ học tri nhận có đầy đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ đã đề ra là nhờ ở sức mạnh liên kết thành một thể thống nhất ba yếu tố: con người, ngôn ngữ và văn hóa.

 

Sơ đồ đưới đây phản ánh luận điểm phân loại ý niệm theo nguyên tắc bộ ba: con người vận động trong thời gian và không gian:

 

 

 

 

 

Chú thích:

 

Ý niệm “vận động” bao gồm một hệ thống những ý niệm nhỏ hơn, đó là hành động vật lí, tư duy (suy nghĩ, sáng tạo, tưởng tượng), nói năng, cảm xúc, ý chí v.v.

Ý niệm “thời gian” bao hàm ý niệm “thời gian thực” có đặc trưng vận động một chiều (hướng) và ý niệm “thời gian ảo” vận động trong thế giới tưởng tượng với đặc trưng đa chiều (hướng).

Ý niệm “không gian” bao hàm “không gian thực” là không gian khách quan trong đó con người tồn tại, và “không gian ảo” là không gian chủ quan do con người tạo ra và tồn tại trong con người.

Ý niệm “không-thời gian” là một kết hợp tất yếu của sự vận động. Không có sự vận động nào diễn ra trong thời gian thuần túy hoặc trong không gian thuần túy.

 

 

 

CẢM XÚC (emotion)

 

Con người, ngoài hoạt động tinh thần (tư duy, ý thức, tri thức v.v.), còn có một dạng hoạt động đặc biệt khác mà ngôn ngữ học tri nhận phải quan tâm nghiên cứu - đó là cảm xúc.

 

Theo định nghĩa của "Từ điển bách khoa Liên Xô" (СЭС, 1983: 1543), "cảm xúc (tiếng Pháp émotion, từ tiếng La Tinh emoveo - "(tôi) làm xúc động") là những phản ứng chủ quan của con người và động vật đối với những tác động của những kích thích tố bên trong và bên ngoài được thể hiện dưới dạng thoả mãn hay không thoả mãn, vui mừng, sợ hãi v.v. Đi kèm với bất kì sự thể hiện nào của hoạt động cơ thể, cảm xúc phản ánh giá trị của những hiện tượng và tình huống và là một trong những cơ chế chính để điều tiết nội bộ hoạt động tâm lí và hành vi nhằm làm thoả mãn những nhu cầu bức thiết" .

 

Cảm xúc khác với nhận thức ở chỗ nó là sự phản ứng chủ quan của con người đối với những tác động của thế giới khách quan. Cảm xúc thuộc thế giới bên trong (nội tâm) của con người, do đó nó cũng là đối tượng của tri nhận.

 

Ngôn ngữ học tri nhận không chỉ quan tâm đến những quá trình nhận thức (tư duy, ý thức), mà còn đặc biệt chú ý đến các quá trình cảm xúc cũng là một loại hoạt động tri nhận của con người. Những ý niệm cảm xúc như vui, buồn, sợ hãi, căm tức, yêu, ghét v.v. vừa mang tính phổ quát (dân tộc nào cũng có), vừa mang tính đặc thù dân tộc bởi lẽ nó gắn liền với văn hoá dân tộc của người bản ngữ.

 

Nhiều học giả cho rằng phân loại cảm xúc của con người thành hai lớp: lớp những cảm xúc cơ sở (sơ cấp) và lớp những cảm xúc thứ cấp là những cảm xúc phái sinh từ những cảm xúc sơ cấp. Danh sách lớp những cảm xúc cơ sở không thống nhất ở các nhà ngôn ngữ học khác nhau. Danh sách ít nhất gồm 3 cảm xúc cơ sở, danh sách nhiều nhất là 11. Nhưng trung bình là từ 5 đến 9. Điều đáng chú ý là 3 cảm xúc: sợ hãi, giận dữ và buồn đều có mặt trong tất cả các danh sách, có nghĩa là chúng đều có mặt trong tất cả các nền văn hoá.

 

Việc nghiên cứu cảm xúc của con người phải dựa trên những biểu hiện ngôn ngữ, đặc biệt là lớp từ vựng của ngôn ngữ tự nhiên, thường nhật của người bản ngữ.

 

Những cảm xúc thường gặp: buồn, chán, đau, ghen (tị), ghen (tuông), ghét, giận, hài lòng, hạnh phúc, hi vọng, khổ, khó chịu, mệt mỏi, ngạc nhiên, nghi ngờ, say mê, sợ hãi, thất vọng, thẹn, thoả mãn, thông cảm, thích thú, tin tưởng, tự hào, tức, vui, xấu hổ, xúc động, yêu v.v.

 

Cảm xúc là một lớp đặc biệt những trạng thái tâm lí chủ quan phản ánh mối quan hệ của con người đối với thế giới và đối với những ngưòi khác, quá trình và kết quả của hoạt động thực tiễn của con người.

 

Cảm xúc là một hiện tượng mang tính chất cá nhân, nhưng sự phát triển cảm xúc trong những điều kiện xã hội cần thiết phải hướng tới những giá trị mới mang tính xã hộị. Việc hình thành cảm xúc ở con người là điều kiện rất quan trọng cho sự phát triển nhân cách của con người. Do đó với tư cách là một đối tượng của khoa học, cảm xúc cần được nghiên cứu trong mối quan hệ tương tác giữa cái chủ quan (nội tâm của con người) và cái khách quan (ngoại cảnh), giữa cái cá nhân và cái xã hội. Mặt khác cảm xúc gắn với hoạt động của cơ thể con người, luôn tìm được cách thể hiện ra bên ngoài bằng sự thay đổi trên nét mặt (điệu mặt: nhăn mặt, nhíu mày, trề môi, há mồm v.v.), hoặc bằng những cử chỉ đơn giản (nhún vai, vỗ tay, vẫy tay v.v.) hoặc bằng những hành động (đấm, đá, chạy, nhảy v.v.), hoặc bằng ngôn ngữ (lời nói, giọng điệu v.v.). Vì vậy, cảm xúc vừa là đối tượng của tâm-sinh lí học, vừa là của ngôn ngữ học.

 

Chức năng của cảm xúc

 

Những dạng chính của các quá trình và trạng thái cảm xúc thực hiện những chức năng khác nhau trong việc điều tiết các hoạt động tâm-sinh lí và hoạt động giao tiếp của con người với những người xung quanh.

 

1) Chức năng đánh giá

 

Cảm xúc là ngôn ngữ bên trong, là hệ thống những biểu hiệu nhờ đó chủ thể nhận biết về giá trị của cái đang xảy ra. Đặc điểm của cảm xúc là ở chỗ nó trực tiếp phản ánh các mối quan hệ giữa motip và sự hiện thực hoá hoạt động đáp ứng các motip này. Trong hoạt động của con người, cảm xúc thực hiện chức năng đánh giá quá trình và kết quả của nó.

 

2) Chức năng giao tiếp

 

Chức năng chính của cảm xúc ở con người là giúp chúng ta hiểu nhau tốt hơn, có thể không cần sử dụng lời nói mà suy xét về trạng thái của nhau, có thể dự đoán cách thức hoạt động và giao tiếp. Điều thú vị là những người thuộc các nền văn hoá khác nhau có thể nhận ra và đánh giá không sai những biểu hiện trên nét mặt người, nhìn mặt mà xác định những trạng thái cảm xúc như vui, buồn, tức giận, sợ hãi, ghét, ngạc nhiên v.v. đúng như câu thành ngữ tiếng Việt nói: "Trông mặt mà bắt hình dong".

 

Hiện tượng đó chứng minh một cách hùng hồn tính chất bẩm sinh của những cảm xúc chính và cách biểu hiện chúng trên nét mặt. Vận động biểu cảm của con người cũng thực hiện chức năng giao tiếp, nghĩa là thông báo cho người khác biết trạng thái của người nói và thái độ của người nói đối với cái đang diễn ra, đồng thời nó cũng thực hiện chức năng tác động vào người nghe. Chức năng giao tiếp và chức năng biểu cảm của cảm xúc là nhân tố rất quan trọng giúp cho việc điều tiết quá trình nhận thức.

 

3) Chức năng thoả mãn những nhu cầu của cơ thể

 

Cảm xúc gắn liền với những nhu cầu của cơ thể. Cảm xúc hài lòng do nhu cầu của cơ thể được thoả mãn và không hài lòng do nhu cầu của cơ thể không được thoả mãn.

 

4) Chức năng hình thành nhân cách con người

 

Cảm xúc là một nhân tố giúp hình thành nhân cách rõ rệt. Trên cơ sở những cảm xúc dương tính (tích cực) nảy sinh những nhu cầu và hứng thú của con người. Chúng liên quan đến ý thức của con người.

 

5) Chức năng thẩm mĩ

 

Cảm xúc có thể làm đẹp con người, cũng có thể làm cho con người trở nên xấu xa, thấp hèn trước con mắt của xã hội. Ranh giới giữa anh hùng và tội phạm chỉ là gang tấc. Lục Vân Tiên và Trịnh Hâm là những điển hình cho những cảm xúc đối lập nhau: một bên là yêu nước, thương dân, một bên là vị kỉ, ganh tị, thù hằn cá nhân. Lịch sử đã tôn vinh Lục Vân Tiên lên đài chân-thiện-mĩ, còn Trịnh Hâm bị nguyền rủa đời đời.

 

 

 

PHÂN LOẠI CẢM XÚC THEO MÔ HÌNH TÂM-SINH LÍ HỌC (psycho-physiological classification of emotions)

 

Thực tế có thể gặp nhiều cách phân loại khác nhau.

 

Có một cách phân loại chia cảm xúc ra thành ba lớp: cảm xúc "thuần tuý", tình cảm và affect[5]. Ngoài ra còn có hai lớp nữa cũng được chú ý, đó là say (si) mê và trầm cảm. Những cảm xúc này nằm trong tất cả các quá trình và trạng thái tâm lí của con người.

 

Cảm xúc và tình cảm mang tính chất cá nhân, song chúng góp phần định tính con người về mặt tâm lí-xã hội. Đối tượng của yêu/ghét là tất cả những gì con người nhận thức như là nguyên nhân của sự thoả mãn/không thoả mãn.

 

Thành quả cao nhất của sự phát triển cảm xúc của con người là tình cảm. Tình cảm đáp ứng những nhu cầu cao nhất của xã hội và biểu hiện quan hệ giữa con người với các hiện tượng xã hội, với những người khác và với chính bản thân mình. Đó là những quan hệ đạo đức, thẩm mĩ, các quan hệ gia đình: cha mẹ, anh em v.v.

 

Tình cảm mang tính vật thể, nó liên quan đến biểu tượng hoặc tư tưởng về một đối tượng nào đó. Tình cảm có một đặc điểm nữa là nó luôn luôn hoàn thiện và phát triển, tạo thành nhiều cấp độ, bắt đầu từ những tình cảm trực tiếp, kết thúc bằng những tình cảm cao cấp thuộc những giá trị tinh thần và lí tưởng.

 

Những tình cảm đã định hình trở thành những yếu tố chủ đạo trong đời sống cảm xúc của con người. Ví dụ, tình yêu khi đã thực sự định hình thì nó trở nên chủ đạo, chi phối những tình cảm khác, chẳng hạn, quy định lòng tự hào đối với người mình yêu, lòng căm ghét đối với kẻ thù của người tình, đau khổ vì những thất bại của chàng (nàng), ghen tuông v.v.

 

Nhân cách vốn có một hệ thống tình cảm được sắp xếp theo tôn ti; nội dung của những tình cảm vượt trội quy định hướng phát triển của nhân cách. Tình cảm mạnh mẽ, vượt trội tuyệt đối được gọi là si mê.

 

Affect (hoảng loạn) - xảy ra khi gặp phải những cảnh ngộ bất thường mà chủ thể không có khả năng tìm ra một lối thoát nhanh và hợp lí để thoát ra khỏi tình huống nguy hiểm, lúc bấy giờ xuất hiện một dạng đặc biệt của các quá trình cảm xúc có tên gọi là affect. Nó thể hiện ở những hành động như bỏ chạy, hoặc đờ người, hoặc trở nên hung hãn v.v. Nhờ có những cảm xúc nảy sinh kịp thời, đúng lúc, cơ thể có được khả năng thích nghi một cách cực kì có lợi với những điều kiện xung quanh. Nó có thể phản ứng nhanh chóng đối với những tác động của ngoại cảnh khi chưa kịp xác định loại, hình thái và những thông số khác của nó.

 

Affect đặc trưng bởi sức mạnh to lớn, thể hiện ra ở những hành động mạnh mẽ, dữ dội, chẳng hạn, kinh sợ, điên tiết. Cảm xúc bị kích động mạnh kìm hãm những quá trình tâm lí khác và "áp đặt" cho chủ thể một phương thức giải quyết tình hình theo kiểu phá rối, ví dụ như chạy trốn hoặc chống đối hung hãn, nghĩa là những hành động thường thấy trong những điều kiện sinh vật học, lâm vào thế đường cùng.

 

Affect là trạng thái cảm xúc được biểu hiện một cách đặc biệt kèm theo những biến đổi có thể nhìn thấy được trong hành vi của con người. Affect không xảy ra trước hành vi, mà diễn ra ở cuối hành vi. Đó là phản ứng nảy sinh do kết quả của một hành động hoặc một hành vi đã xảy ra rồi. Khác với cảm xúc và tình cảm, affect diễn ra mạnh mẽ, nhanh, kèm theo những thay đổi trên cơ thể và những phản ứng bằng hành động.

 

Affect thường làm cho hành vi của con người trở nên không bình thường. Chúng thường để lại những dấu vết rõ ràng và ổn định trong bộ nhớ dài hạn. Khác với affect, công việc của cảm xúc và tình cảm liên quan đến bộ nhớ ngắn hạn và bộ nhớ động. Nếu không kịp thời được giải thoát, thì affect sẽ dẫn đến trầm cảm.

 

Say (si) mê cũng là một dạng phức tạp của cảm xúc của con người. Say mê là sự gắn kết cảm xúc, mô típ và tình cảm tập trung xung quanh một dạng hoạt động hay một sự vật nào đó. Đối tượng của sự say mê có thể là con người. Theo Rubinstein 1989, cảm xúc say mê luôn luôn được thể hiện trong sự tập trung suy nghĩ và sức lực nhằm vào một mục đích thống nhất.

 

Mỗi một loại chính của cảm xúc có thể chứa những tiểu loại. Và mỗi tiểu loại lại có thể được đánh giá theo những thông số khác nhau, chẳng hạn, theo cường độ, theo độ dài thời gian, chiều sâu, mức độ ý thức được, nguồn gốc, những điều kiện xuất hiện và biến mất, theo sự tác động đối với cơ thể, sự phát triển, định hướng (về phía mình, về phía những người khác, hướng về thế giới, về quá khứ, hiện tại hoặc tương lai), về phương thức biểu hiện ra bên ngoài và về cơ sở sinh lí-thần kinh.

 

Theo truyền thống Âu châu, các nhà tâm lí học phân chia cảm xúc thành hai loại lớn: những cảm xúc cơ sở và những cảm xúc thứ yếu. Nguyên tắc phân loại ở các nhà nghiên cứu không giống nhau, và do đó số lượng cảm xúc trong các bảng phân loại không đồng đều nhau. Dưới đây là danh sách những cảm xúc cơ sở theo các bảng phân loại được dẫn trong bài báo của Ortony 1996.

 

 

 

Có kiểu phân loại cảm xúc dựa trên cơ sở kết hợp những biểu hiện sơ đẳng của tâm lí. Điển hình nhất là kiểu phân loại của V. Woondt 1984, theo đó tất cả những cảm xúc được xem xét trong không gian ba chiều trên các trục "hài lòng-không hài lòng", "kích thích-làm dịu", "căng thẳng-giải thoát".

 

II- PHẠM TRÙ và ĐIỂN DẠNG

PHẠM TRÙ (category)

 

Phạm trù (tiếng Hi-lạp cổ - κατηγορία — “lời phát biểu, lời buộc tội”) là đối tượng quan tâm của tất cả các khoa học. Triết học định nghĩa phạm trù là khái niệm chung nhất và nền tảng nhất phản ánh những thuộc tính và những quan hệ cơ bản và phổ biến của các hiện tượng của hiện thực và nhận thức. Phạm trù là kết quả của sự khái quát hoá sự phát triển lịch sử của nhận thức và của thực tiễn xã hội. Những phạm trù chính của chủ nghĩa duy vật biện chứng: vật chất, vận động, không gian, thời gian, chất lượng, số lượng, mâu thuẫn và thống nhất, nguyên nhân và hậu quả, tất yếu và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, khả năng và hiện thực, bản chất và hiện tượng v.v. Cùng với sự phát triển của hiện thực khách quan và tri thức khoa học, các phạm trù cũng phát triển và trở nên phong phú.

 

Trong ngôn ngữ học, đặc biệt trong ngữ pháp học, chúng ta gặp những định nghĩa phạm trù cụ thể hơn. Chẳng hạn, phạm trù ngữ pháp được định nghĩa như sau: "Phạm trù ngữ pháp là những tập hợp, những nhóm, là tổng hoà những hiện tượng ngữ pháp đồng loại, trước hết là tổng hoà những từ ngữ pháp đồng loại bên cạnh sự khác nhau của các hình thái của chúng. Sự thống nhất của phạm trù này hay phạm trù khác được quy định không phải bởi phương thức ngữ pháp, mà bởi ý nghĩa ngữ pháp chung" (Реформатский 1997: 316-317).

 

Có những phạm trù ngữ pháp lớn như phạm trù từ loại với những tiểu phạm trù, (hay còn gọi là những phạm trù con (subcategory): danh từ, tính từ, động từ v.v., mỗi tiểu phạm trù lại chứa đựng những phạm trù đặc thù như những phạm trù giống, số, cách của danh từ; những phạm trù thì, thể, thức, thế, ngôi v.v. của động từ.

 

Không chỉ trong khoa học chúng ta mới dùng đến khái niệm phạm trù. Trong đời sống thường nhật, con người luôn luôn phải động chạm đến phạm trù, bởi lẽ con người suy nghĩ bằng phạm trù.

 

Khi người mẹ nói với đứa trẻ: "Đây là rau này, đây là quả này, đây là củ này", ấy là người mẹ dạy cho con phân biệt các phạm trù thực vật. Rồi người mẹ lại nói: "Đây là rau muống này, đây là rau cải này, đây là rau đay này", ấy là người mẹ dạy cho con nhận ra các tiểu phạm trù trong phạm trù rau. Tóm lại, người mẹ dạy cho con cách phạm trù hoá thế giới bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, nghĩa là vừa phạm trù hoá thế giới, vừa gọi tên những phạm trù đó.

 

Người Việt Nam thông qua tiếng Việt đã tiến hành phạm trù hoá thế giới một cách rất độc đáo. Bắt đầu từ hai từ "cái" và "con", người Việt đã phân chia thế giới thành hai lớp phạm trù lớn: phạm trù sự vật tĩnh (cái nhà, cái bàn, cái cây, cái máy v.v.) và phạm trù sự vật động (con người, con chó, con chim, con sông, con suối, con quay v.v.). Tĩnh/động là những phạm trù tri nhận phản ánh đặc điểm tư duy của người Việt.

 

Lakoff 1986 trích dẫn cách phân loại các loài động vật mà Borges 1966 cho là của người Trung Hoa cổ xưa như sau: "Các loài động vật được chia ra thành: a) động vật thuộc Hoàng đế; b) động vật đã được ướp xác; c) động vật có thể thuần hoá; d) các loại heo sữa; đ) tiên cá; e) chó hoang; e) những động vật được vẽ bằng cây bút lông lạc đà; g) các loài động vật trong truyện cổ tích v.v." Tất nhiên đây không phải là những phạm trù tự nhiên của tư duy con người. Có chăng thì chúng được chấp nhận trong lĩnh vực nghệ thuật.

 

Có hai thuyết về phạm trù: thuyết cổ điển và thuyết hiện đại.

 

Từ thời Aristotle đến những công trình sau này của Wittgenstein, phạm trù được hiểu như những thiết chế rất rõ ràng, không che dấu trong nó những vấn đề đặc biệt nào, chúng là những cái chứa đựng trừu tượng: một số sự vật nằm trong vật chứa-phạm trù, một số khác thì nằm ngoài. Người ta cho rằng những sự vật được xếp vào một phạm trù khi và chỉ khi chúng có những thuộc tính chung nhất định. Và những thuộc tính chung này quy định phạm trù nói chung.

 

Lí thuyết phạm trù cổ điển này nảy sinh không phải là kết quả của việc nghiên cứu mang tính kinh nghiệm. Thậm chí nó cũng không phải là đối tượng của những cuộc thảo luận kéo dài. Thực tế, trước mắt chúng ta là một giả thuyết triết học được hình thành trên cơ sở những suy nghĩ tiên nghiệm. Nhiều thế kỉ qua việc giải thích phạm trù theo kiểu cổ điển đã đi vào hệ thống những quan điểm xuất phát như một bộ phận của nó và được chấp nhận như một tiền đề trong đa số các bộ môn khoa học. Về thực chất, cho đến tận ngày nay lí thuyết phạm trù cổ điển người ta không coi là lí thuyết nữa. Trong đa số các bộ môn khoa học, nó được xem không phải là một lí thuyết kinh nghiệm, mà là một chân lí tuyệt đối bất khả kháng.

 

Trong một thời gian rất ngắn, mọi sự đã hoàn toàn thay đổi. Nhờ có việc tiến hành những nghiên cứu rộng rãi mang tính kinh nghiệm trong rất nhiều lĩnh vực khác nhau, việc phạm trù hóa từ lĩnh vực tiên đề đã chuyển hướng sang lĩnh vực thực nghiệm. Trong tâm lí học tri nhận, việc phạm trù hóa đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu rất quan trọng trước hết là nhờ những công trình đi tiên phong của E. Rosch, người đã nhìn thấy trong việc phạm trù hóa một loại đối tượng đặc biệt để phân tích. Bà tập trung chú ý vào hai hệ quả của lí thuyết cổ điển:

 

Một là, nếu phạm trù chỉ được quy định bởi những thuộc tính mà tất cả các yếu tố đều phải có, thì không thể có những tình huống khi một trong số những yếu tố đó phù hợp ở mức độ nhiều hơn với quan niệm về phạm trù đó so với những yếu tố khác.

 

Hai là, nếu phạm trù được quy định chỉ bởi những thuộc tính vốn có trong nội bộ các yếu tố của nó, thì bản thân các phạm trù phải độc lập đối với những đặc điểm cấu tạo của những bản thể thực hiện việc phạm trù hóa, cụ thể là chúng cần phải thoát khỏi ảnh hưởng của sinh lí-thần kinh của con người, thoát khỏi sự vận động của cơ thể con người và những năng lực đặc trưng của con người có thể tri giác, tạo ra những hình ảnh tinh thần, năng lực dạy học, năng lực nhớ, năng lực tổ chức những sự kiện đã nắm được và năng lực giao tiếp có hiệu quả.

 

Những nghiên cứu của Rosch và các đồng nghiệp của bà chứng minh rằng nói chung phạm trù nào cũng có những đại diện tốt nhất của nó (chúng được gọi là những “điển dạng”) và tất cả những khả năng đã liệt kê ở trên đều tham gia thực tế vào các quá trình phạm trù hóa.

 

Theo quan điểm hiện nay những kết quả này cũng không đáng phải ngạc nhiên cho lắm. Song một loạt những chi tiết nhận được cũng đã gây sốc cho các khoa học tri nhận mà hệ quả của nó ngày nay đang được cảm nhận (x. mục từ Categorization – Phạm trù hóa).

 

 

 

PHẠM TRÙ HÓA (categorization)

 

Vấn đề phạm trù hoá thế giới được ngôn ngữ học tri nhận đặc biệt chú ý. Quá trình phạm trù hoá có mục đích tập hợp những hiện tượng giống nhau về mặt nào đó thành những lớp lớn hơn. Phạm trù là một trong những hình thái nhận thức của tư duy con người cho phép khái quát hoá kinh nghiệm và thực hiện phân loại kinh nghiệm. Cách nhìn của ngôn ngữ học tri nhận dẫn đến chỗ từ bỏ những luận điểm của lí thuyết cổ điển, theo đó đối với mỗi đơn vị phạm trù cần phải có một tập hợp những nét chuẩn lặp đi lặp lại dưới dạng không đổi. Cơ sở để hợp nhất các đơn vị là phép loại suy và định hướng điển dạng. Về mặt cấu trúc của tri thức được phản ánh trong ngôn ngữ, những phạm trù ngôn ngữ được chia thành hai loại: những phạm trù định hướng-phản ánh (khách quan hoá sự hiểu biết của chúng ta về thế giới, chẳng hạn như từ loại, giống, số) và những phạm trù định hướng-hệ thống (khách quan hoá sự hiểu biết của chúng ta về ngôn ngữ, chẳng hạn như âm vị, hình vị). Chức năng của các phạm trù ngôn ngữ có thể được xác định như là hình thái biểu tượng những cấu trúc ý niệm nhất định. Phạm trù hoá mang tính chất chủ quan, do đó sự hành chức của các phạm trù được miêu tả thông qua những quy tắc dụng học và văn cảnh chi phối việc sử dụng chúng.

 

Ngày nay người ta hiểu bản chất của các phạm trù ngôn ngữ và bản chất của quá trình phạm trù hoá đã khác trước. Các nhà ngôn ngữ học thừa nhận rằng ranh giới giữa cú pháp và ngữ nghĩa chỉ là ước lệ, được chấp nhận chỉ để cho tiện miêu tả một số hiện tượng ngôn ngữ. Trong tình hình đó ngữ nghĩa tri nhận với tư cách là một "phân ngành" của ngôn ngữ học tri nhận cũng chuyển lên một cấp độ khác về chất, ở đó diễn ra sự thay đổi nghĩa của những thuật ngữ như "ý nghĩa", "khái niệm", "ý niệm" và một loạt những đơn vị khác của hệ thống thuật ngữ ngữ nghĩa truyền thống.

 

Lakoff 1982 phát triển những tư tưởng của Rosch 1975 chứng minh tính không hợp lí của những quan niệm truyền thống cho rằng các phạm trù là những tập hợp với những ranh giới rõ rệt, tách bạch, dứt khoát mà một đối tượng chỉ có thể thuộc về hoặc không thuộc về một phạm trù nào đó, đồng thời tất cả các yếu tố của một phạm trù đều có cương vị như nhau. Các cuộc thí nghiệm cho thấy ranh giới giữa các phạm trù mờ nhạt, không tách bạch, còn bản thân các phạm trù thì có cấu trúc nội tại: một số yếu tố của chúng đại diện cho phạm trù tốt hơn một số yếu tố khác, nghĩa là chúng là những yếu tố điển dạng của phạm trù (x. mục từ  Prototype - Điển dạng).

 

Hơn nữa, bản thân các phạm trù cũng không như nhau: có những phạm trù nổi trội tương ứng với những cái gọi là ý niệm cấp cơ sở của sự phạm trù hoá. Những tên gọi tương ứng với cấp độ này được người ta thích sử dụng hơn, dễ nhớ hơn, trẻ em tiếp thu sớm hơn, đơn giản hơn về mặt ngôn ngữ học, có giá trị văn hoá lớn hơn và một loạt những thuộc tính đặc biệt như ý niệm "chó" so với ý niệm cấp cao hơn: "động vật" và ý niệm cấp thấp hơn: "chó mực".

 

Phạm trù hoá là một trong những khái niệm then chốt trong việc miêu tả hoạt động nhận thức của con người liên quan đến hầu hết những năng lực và hệ thống tri nhận trong bộ máy tri nhận của nó và với cả những thao tác được thực hiện trong các quá trình tư duy như so sánh, đồng nhất, thiết lập sự giống nhau và tương đồng.

 

Với nghĩa hẹp phạm trù hoá là việc đưa những hiện tượng, đối tượng, quá trình v.v. vào phạm vi kinh nghiệm, vào phạm trù và thừa nhận nó là một thành tố của phạm trù này, song với nghĩa rộng hơn thì đó là quá trình cấu tạo và phân suất chính bản thân các phạm trù, là quá trình phân chia thế giới bên ngoài và thế giới bên trong của con người, quá trình sắp xếp các hiện tượng theo thứ tự số lượng ít hơn hoặc hợp nhất chúng lại. Đồng thời đó là kết quả của hoạt động phân loại.

 

Đôi khi người ta khẳng định rằng hiện tượng phạm trù hoá là hiện tượng ngôn ngữ học, do đó người ta nói đó là hiện tượng phạm trù hoá ngôn ngữ học. Những kết quả của nó được phản ánh trong lớp từ vựng đủ nghĩa, còn mỗi một từ đủ nghĩa được xem như đó là sự phản ánh một phạm trù riêng lẻ với rất nhiều những yếu tố đại diện đứng sau nó. Nếu các vật thể (cụ thể, trừu tượng) không có tên gọi thì làm sao chúng ta biết được rằng con người nói bằng một thứ ngôn ngữ tự nhiên có thể quy một đối tượng nào đó, một quá trình, một thuộc tính hay một hiện tượng nào đó vào một lớp hoặc một phạm trù nào. Song điều khẳng định này không nên hiểu một cách quá thô thiển bởi vì các con vật cũng có thể phân biệt được những kích thích có bản chất khác nhau và phản ứng lại những kích thích đó một cách khác nhau (Jackendoff 1983). Những năng lực này thể hiện rất rõ trong những thí nghiệm với trẻ em. Trẻ em không biết những thuật ngữ chung để gọi tên phạm trù (ví dụ, tên gọi các loại “hoa quả” và “rau”), song theo yêu cầu của người làm thí nghiệm chúng có thể xếp những thứ người ta đưa cho chúng theo từng đống khác nhau.

 

Cùng với sự phát triển cách tiếp cận tri nhận, các quan điểm về bản chất của quá trình phạm trù hoá đã thay đổi về cơ bản. Nguồn gốc về cách hiểu mới này gắn liền với tên tuổi của Wittgenstein 1969 (x. mục từ Wittgenstein), người đã phân tích một cách độc đáo những ý nghĩa của từ “trò chơi” và chỉ ra rằng tất cả các nghĩa tương đồng chỉ có mối liên hệ với nhau qua “sự giống nhau về dòng tộc” (x. mục từ Family resemblance), nghĩa là ở mỗi cặp nghĩa so sánh có một nét nghĩa chung nào đó. Chẳng hạn, một người bà con có thể giống với một người khác ở chỗ họ có tính khí giống nhau, lại có thể giống với một người khác nữa về ngoại hình. Những tư tưởng này về sau được Lakoff phát triển rất hiệu quả và được phản ánh trong cái gọi là phương pháp điển dạng và ngữ nghĩa học điển dạng.

 

Rosch 1975 đã áp dụng phương pháp điển dạng trong việc phân định các cấp độ phạm trù hoá, trong đó có cấp độ cơ sở được xem là trung tâm để nghiên cứu các dạng khác nhau của hoạt động tri nhận.

 

Thực tế đã có rất nhiều công trình tâm lí học cũng như ngôn ngữ học nghiên cứu hiện tượng phạm trù hoá các màu. Rosch 1970, 1971, 1972, Berlin và Kay 1969 nhận định rằng khi phạm trù hoá các màu sắc, chúng ta dựa vào một số điểm quy chiếu để định hướng trong việc lựa chọn thẻ màu nào là đúng nhất, là "tâm điểm" nhất (foci = focal points) của một màu nào đó (thí dụ màu "đỏ") và dựa vào "các màu trung tâm" vốn không những được người bản ngữ dễ dàng đồng tình trong sự phân loại mà còn rất nhất quán giữa các ngôn ngữ khác nhau. Các tâm điểm hay các màu trung tâm này có một tôn ti nhất định mang tính phổ quát (chứ không phải mang tính tương đối) rất rõ qua khảo sát các từ chỉ màu cơ sở (basis colour terms) của 98 ngôn ngữ trên thế giới. Cụ thể là với 11 phạm trù màu cơ sở (Trắng, Đen, Đỏ, Xanh lá cây, Xanh da trời, Vàng, Nâu, Tía, Hồng, Da cam, Xám). Trong tiếng Việt, theo Berlin và Kay, có 9 từ chỉ màu cơ sở.

 

Lakoff 1986 tổng kết những nguyên tắc chung của việc phạm trù hoá như sau:

 

1) Tính trung tâm. Những thành tố cơ bản của phạm trù phải là trung tâm.

 

2) Mối liên hệ dây chuyền. Những phạm trù phức tạp được cấu tạo nhờ mối liên hệ dây chuyền. Những thành tố trung tâm của phạm trù liên hệ với những thành tố ít trung tâm hơn, rồi những thành tố này, đến lượt mình, lại liên hệ với những thành tố ngoại vi v.v. Chẳng hạn, phạm trù người phụ nữ có mối liên tưởng đến phạm trù cái đẹp (người ta thường nói: người phụ nữ thuộc phái đẹp); phạm trù cái đẹp, đến lượt mình, có mối liên tưởng đến hoa hồng (tuỳ theo quan niệm của từng nền văn hoá). Do đó hoa hồng thuộc phạm trù người phụ nữ. Người phụ nữ, cái đẹp, hoa hồng làm thành một chuỗi phạm trù có mối liên hệ dây chuyền với nhau.

 

3) Miền kinh nghiệm. Miền kinh nghiệm là phạm vi hoạt động thực tiễn của con người. Trong mỗi nền văn hoá có những miền kinh nghiệm đặc thù đối với nó. Chẳng hạn, con người có thể hoạt động trong những miền kinh nghiệm khác nhau: chính trị, văn hoá, khoa học, nghệ thuật, kinh doanh, giáo dục v.v. Những miền kinh nghiệm này quy định các mối liên hệ trong các dây chuyền (chuỗi) phạm trù.

 

4) Những mô hình lí tưởng. Có những mô hình thế giới lí tưởng (thuộc số đó có những chuyện thần thoại và những tín ngưỡng khác nhau) cũng có thể tạo ra các mối liên hệ trong các chuỗi phạm trù.

 

5) Kiến thức chuyên môn. Kiến thức chuyên môn có ưu việt trước kiến thức chung khi phạm trù hoá[6].

 

6) Không có những đặc tính chung. Trong cơ sở của phạm trù không nhất thiết phải có những đặc tính chung cho tất cả các thành tố của phạm trù. Không có cơ sở nào để nói giữa các phạm trù trong chùm phạm trù người phụ nữ, cái đẹp và hoa hồng có một cái gì đó chung. Giả dụ có cái gì đó chung, thì ví dụ sau đây của Lakoff sẽ làm chúng ta kinh ngạc: người phụ nữ có mối liên tưởng đến mặt trời (em là mặt trời của anh); mặt trời có mối liên tưởng đến vết bỏng (cháy nắng); vết bỏng có mối liên tưởng đến con sâu róm. Vậy con sâu róm là thuộc phạm trù người phụ nữ! Rõ ràng trong chuỗi các phạm trù người phụ nữ, mặt trời và con sâu róm ta không thể tìm thấy những đặc tính chung.

 

 

 

 

 

ĐIỂN DẠNG (prototype)

 

Một trong những nguyên lí của ngôn ngữ học tri nhận cho rằng ngôn ngữ tự nhiên của con người có một thuộc tính rất cơ bản, rất quan trọng - đó là tập hợp các phương tiện ngôn ngữ là có hạn, còn khả năng sử dụng ngôn ngữ là vô hạn. Lí thuyết điển dạng lấy nguyên lí này làm cơ sở phương pháp luận của mình và chủ trương rằng khả năng nhận thức của con người cũng vô tận. Lí thuyết điển dạng là một cách tiếp cận cấu trúc nội tại của ý niệm trong đó có chứa một số yếu tố điển dạng. Nhiệm vụ của lí thuyết này là thuyết giải mối quan hệ của đối tượng đối với các điển dạng tồn tại trong ý niệm.

 

Ch. Fillmore cho rằng ngữ nghĩa của điển dạng quyết định ý nghĩa của một từ cụ thể. Theo ông, lúc đầu chỉ có những trường hợp điển hình, nhưng sau đó ông lại chỉ ra rằng cả những đối tượng khác cũng có thể được quy về cùng một phạm trù, mặc dù chúng không đạt được tất cả các chuẩn. Điều đó cho phép thuyết giải một cách mềm dẻo, linh hoạt trường hợp như từ "kẻ độc thân". Một người đàn ông chưa có vợ phải bao nhiêu tuổi thì mới có thể gọi là kẻ độc thân? Đứa bé sơ sinh và đứa trẻ vị thành niên rõ ràng không thể được gọi như thế. Một tu sĩ liệu có thể được gọi là kẻ độc thân?

 

Trưòng hợp với từ "quả phụ" cũng rất thú vị về mặt phạm trù hóa. "Từ điển tiếng Việt 1992" định nghĩa "quả phụ là người đàn bà góa" (tr.785). Còn từ "góa" thì được định nghĩa là "có chồng hay vợ đã chết (chỉ nói về người ít nhiều còn trẻ)" (tr. 409). Vậy, một người đàn bà giết chồng mình liệu có thể được gọi là bà quả phụ? Hoặc người đàn bà lấy nhiều chồng, sau đó người chồng thứ nhất chết, thì liệu bà ta có thể được gọi là bà quả phụ không?

 

Nếu người bản ngữ có ý kiến khác nhau về những vấn đề tương tự như đã nêu, thì có nên xem họ là những người mang những ngôn ngữ khác nhau, những phương ngữ khác nhau v.v.? Để trả lời những câu hỏi này, các khái niệm "kẻ độc thân", "bà goá phụ", "phương ngữ" cần phải được xác định trong một "thế giới đơn giản", ở đó người ta thường cưới vợ hoặc đi lấy chồng sau khi đã đạt được một độ tuổi nhất định, đồng thời không bao giờ lấy vợ hoặc lấy chồng lần thứ hai, hoặc là chỉ sau khi đã trở thành goá bụa. Cái "thế giới điển dạng" này đơn giản hơn rất nhiều so với cái thế giới trong đó chúng ta đang sống, nhưng nó giúp xác định tất cả những sự phức tạp hoá một cách từ từ.

 

Tư tưởng sâu xa của lí thuyết điển dạng làm nền tảng cho tri nhận luận nói chung là ở chỗ các cấu trúc ý niệm đều bắt nguồn từ kinh nghiệm thể xác của chúng ta, và cũng chỉ nhờ đó mà nó có ý nghĩa. Lí thuyết điển dạng đóng góp vào ngữ nghĩa học ba tư tưởng:

 

a) Trong ý nghĩa của một từ, nó hợp nhất được cái mà trong mô hình cổ điển cho là loại trừ lẫn nhau, cụ thể là kiến thức ngôn ngữ và kiến thức bách khoa (kiến thức bách khoa bao gồm cả những biểu tượng về cái điển hình và cái điển dạng);

 

b) Nó chỉ ra rằng phạm trù có cấu trúc nội tại, những quan hệ giữa các yếu tố của nó được thể hiện khác nhau trong lời nói:

 

c) Nó thiết định hệ tôn ti của các phạm trù phản ánh hệ tôn ti từ vựng.

 

Bản thân lí thuyết điển dạng bao gồm những luận điểm sau đây:

 

1. Phạm trù có cấu trúc điển dạng nội tại.

 

2. Mức độ đại diện của một phiên bản tương ứng với mức độ lệ thuộc của nó vào phạm trù.

 

3. Ranh giới giữa các phạm trù hay các ý niệm không rõ rệt.

 

4. Các thành tố của một phạm trù không nhất thiết phải có những thuộc tính chung, chúng hợp nhất nhau lại nhờ sự giống nhau về gia tộc.

 

5. Quy một đối tượng nào đó vào một phạm trù nào đó có thể trên cơ sở mức độ giống nhau với điển dạng.

 

6. Nghiên cứu tài liệu không phải theo kiểu phân tích, mà là tổng hợp.

 

Lí thuyết điển dạng cho rằng con người tạo ra trong đầu mình một hình ảnh cụ thể hoặc trừu tượng về những sự vật thuộc về một phạm trù nào đó. Hình ảnh này được gọi là điển dạng nếu như nhờ nó con người tri giác được hiện thực: yếu tố nào của phạm trù ở gần cái hình ảnh này hơn cả sẽ được đánh giá là một phiên bản tốt nhất hoặc điển dạng nhất so với những phiên bản khác. Điển dạng là một công cụ giúp con người làm chủ số lượng vô hạn những kích thích do hiện thực tạo ra.

 

Không có kiểu miêu tả nào có thể phủ kín tất cả những trường hợp sử dụng một đơn vị ngôn ngữ cụ thể bởi vì không phải tất cả mọi yếu tố của phạm trù đều là điển dạng.

 

Khái niệm điển dạng được sử dụng rất rộng rãi: nó được dùng để thuyết giải mối tương quan giữa âm vị và âm vị nhánh, để miêu tả các quá trình hình thái học và cú pháp, dựa vào nó có thể phân biệt khái niệm ngôn ngữ và phương ngữ v.v. Bên trong phạm trù, các yếu tố có thể liên hệ với nhau bằng những mối quan hệ khác nhau

 

 

 

Phân loại điển dạng

 

Việc phân loại các điển dạng theo Lakoff 1986 dựa trên những yếu tố sau đây:

 

1. Những ví dụ điển hình như trong các câu sau:

 

"Chim sâu và chim sẻ là những con chim điển hình".

 

"Táo và cam là những trái cây điển hình".

 

"Cưa và búa là những dụng cụ điển hình".

 

Việc sử dụng những thành tố điển hình của phạm trù thường không ý thức được - nó có tính chất tự động. Đối với những thành tố điển hình của phạm trù, những người bản ngữ không có ý kiến bất đồng. Những thành tố này có thể xem là đã ổn định.

 

2. Những khuôn mẫu xã hội: Những khuôn mẫu xã hội thường được xã hội ý thức, và do đó chúng có thể gây ra những bất đồng ý kiến. Chúng biến đổi trong thời gian do mọi người thoả thuận với nhau. Chúng thường được dùng trong suy luận và có thể dẫn đến cái mà người ta thường gọi là những "kết luận vội vã". Cơ sở của việc sử dụng những khuôn mẫu xã hội trong các suy li có thể bị bác bỏ một cách công khai. Những ví dụ sau đây dẫn theo Lakoff (1986):

 

"Một chính khách điển hình giữ lập trường thoả hiệp, có tính tự cao tự đại và không trung thực".

 

"Người mẹ điển hình là người nội trợ".

 

"Kẻ độc thân điển hình là một "người đàn ông đích thực", thường hay cặp với nhiều phụ nữ, thích chiến thắng họ, thường xuyên có mặt trong các quán bar v.v."

 

"Người Nhật điển hình cần cù lao động, lịch thiệp và thông minh".

 

Những khuôn mẫu xã hội thường được dùng để xây dựng những phán đoán nhanh về con người. Chúng được dùng cả trong quảng cáo, trong văn chương phổ cập, trong báo chí.

 

3. Những mẫu lí tưởng: Đó là hiện tượng lí tưởng hoá vật thể, nghĩa là nêu lên những mẫu lí tưởng trừu tượng không mang tính điển hình của một phạm trù nào đó. Ví dụ:

 

"Người chồng điển hình (hay người chồng lí tưởng) là người kiếm được nhiều tiền, chung thuỷ với vợ, được mọi người kính trọng, có sức hấp dẫn".

 

"Khuôn mẫu người chồng không hợp với lí tưởng: vụng về, vô công rồi nghề, chán ngắt, bụng phệ".

 

4. Khả năng tạo sinh: Đó là trường hợp khi các đại diện của một phạm trù được xác định, hay được "tạo sinh" bởi những đại diện trung tâm cộng với một số lượng nào đó những quy tắc chung. Ví dụ, khi cần tạo một định nghĩa chung, người ta định nghĩa phạm trù này thông qua phạm trù khác.

 

6. Các tiểu mô hình (tiểu phạm trù). Ví dụ, phạm trù động vật có các tiểu phạm trù động vật có ý thức (con người) và động vật không có ý thức. Pham trù màu sắc có các tiểu phạm trù màu sơ cấp và tiểu phạm trù màu thứ cấp. Phạm trù cảm xúc có các tiểu phạm trù cảm xúc cơ sở và tiểu phạm trù cảm xúc thứ cấp v.v.

 

7. Những ví dụ nổi tiếng ai cũng biết, dễ nhớ v.v. Nếu bạn có một người quen đang ăn chay, thì có thể căn cứ vào người này để suy xét về tất cả những người ăn chay khác.

 

 

 

KHUÔN MẪU LỜI NÓI (stereotype)

 

Trong ngôn ngữ học tri nhận, khuôn mẫu lời nói được xem là công thức (biểu thức) lời nói có sẵn với chức năng truyền đạt một cách nhanh chóng và tiết kiệm nội dung ngữ nghĩa và khái niệm của ngôn ngữ và văn hoá trong những tình huống giao tiếp điển hình. Khuôn mẫu lời nói thực chất là khung tri nhận chứa đựng những tri thức hiện thân trong lời. Khuôn mẫu lời nói có những đặc điểm thể hiện ở chỗ, một là, chúng phản ánh những phán đoán về những hiện tượng của hiện thực được lặp đi lặp lại nhiều lần, do đó chúng định hình thành những lời nói không thay đổi; hai là, chúng tiết kiệm những phương tiện biểu đạt lời nói, do đó bảo vệ ý thức của con người khỏi những công việc thừa trong khi sáng tạo những đơn vị lời nói mới; ba là, chúng góp phần điều tiết hành vi của những người tham gia giao tiếp, bảo đảm sự thành công trong giao tiếp.

 

Khuôn mẫu lời nói có thể gặp trong tất cả mọi lĩnh vực hoạt động tri nhận của con người: chính trị, kinh tế, văn hoá, văn nghệ, khoa học-kĩ thuật, đạo đức v.v.

 

Ví dụ: Trước đây, ý niệm về người phụ nữ lí tưởng được biểu tượng theo khuôn mẫu "công dung ngôn hạnh", ngày nay, tuỳ từng giai đoạn lịch sử, là "tay cày tay súng", "ba đảm đang", nói chung theo khuôn mẫu "anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang". Khi nói về Điện Biên Phủ, ta gặp khuôn mẫu "lừng lẫy Điện Biên chấn động địa cầu". Ý niệm về Quân đội nhân dân Việt Nam được khắc ghi trong khuôn mẫu "trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng". "Đậm đà màu sắc dân tộc" đã trở thành khuôn mẫu cho ý niệm văn hóa. Khuôn mẫu "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" chứa đựng ý niệm về công cuộc dựng nước và giữ nước Việt Nam. Ý niệm cưới xin ngày xưa, trong xã hội phong kiến (và ngay cả bây giờ vẫn đang còn tồn tại trong ý thức một bộ phận người dân!) được quy định theo khuôn mẫu "môn đăng hộ đối", nghĩa là hai bên nhà trai và nhà gái phải tương xứng với nhau về tài sản, địa vị xã hội, bất chấp tình yêu của đôi lứa. Trong nông nghiệp, ý niệm trồng trọt được hiểu theo khuôn mẫu "nuớc, phân, cần, giống". Ý niệm bí quyết thành đạt của đời người gắn với khuôn mẫu "thiên thời, địa lợi, nhân hoà" v.v. Khuôn mẫu của ý niệm người cai trị dân ngày xưa là "Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", người cán bộ ngày nay là "Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư".

 

 

 

HIỆN TƯỢNG MỜ (fuzzy)

 

Khi nghiên cứu điển dạng tri nhận, rất cần thiết phải phân biệt nó với hiện tượng mờ. Những thành tố của phạm trù có thể đứng cách xa trung tâm hơn, hoặc đứng gần trung tâm hơn, nhưng vẫn không phải là những ví dụ của tính mờ. Chẳng hạn, "người mẹ" có thể không tương hợp với mẫu biểu tượng về người mẹ-nội trợ, song vẫn cứ là người mẹ. Vịt, diều hâu không tương hợp với mẫu biểu tượng về loài chim, nhưng vẫn cứ là loài chim.

 

Khái niệm mờ và điển dạng thường bị nhầm lẫn với nhau. Do mờ nên xuất hiện hiệu lực điển dạng. Có hai nguồn gốc sinh ra hiện tượng mờ.

 

Nguồn gốc rõ ràng nhất - đó là khái niệm thang độ. Chẳng hạn những khái niệm cao, giàu, trung niên. Ý nghĩa của những từ này cho ta hình dung thang độ một cách rõ ràng. Thế nào là người cao? Có cả một thang độ để xác định chiều cao của anh ta: 1,70m, 1,75m, 1,80m v.v. Thế nào là người giàu? Có bao nhiêu tiền thì được gọi là giàu? Thang độ giàu: 100 triệu đồng, 500 triệu đồng, 1 tỉ đồng v.v. Về tuổi tác, cũng khó xác định người trung niên: 30 tuổi, 40 tuổi hay 50 tuổi? Tính thang độ trong nghĩa của từ làm mờ ranh giới giữa các khái niệm. Tính mờ có ngay trong bản thân khái niệm, còn những khái niệm điển dạng là những khái niệm rất rõ rệt của phạm trù.

 

Nguồn gốc thứ hai của tính mờ có thể là những khái niệm không chứa đựng thang độ. Ví dụ của Fillmore 1982 về từ "kẻ độc thân" mà chúng ta đã biết (x. mục từ Cognitive linguistics – Ngôn ngữ học tri nhận). Nếu lấy chế độ hôn nhân làm mô hình lí tưởng để xác định nghĩa của từ "kẻ độc thân" như "Từ điển tiếng Việt" 1992 đã nêu: "Chỉ sống một mình, không lập gia đình", thì không thể trả lời được những câu hỏi:

 

- Đức Giáo hoàng La Mã có phải là kẻ độc thân?

 

- Những linh mục, sư sãi có phải là những kẻ độc thân?

 

- Người đàn ông cặp bồ với nhiều phụ nữ, chơi bời ở những quán bar v.v. có phải là kẻ độc thân?

 

- Người đàn ông đã có vợ, nhưng vợ chết, anh ta chỉ sống một mình, không lập gia đình có phải là kẻ độc thân?

 

Ở đây tính mờ đã bộc lộ rõ ràng. Nó làm nảy sinh những hiệu lực điển dạng - biểu tượng về những hình mẫu đạt hơn và tồi hơn về những kẻ độc thân. Những từ đạt hơn, tồi hơn trong trường hợp này phản ánh mức độ tự tin khi khẳng định người này có phải là thành tố của phạm trù không.

III- ẨN DỤ và HOÁN DỤ

ẨN DỤ (metaphor)

 

Theo cách hiểu truyền thống, ẩn dụ (tiếng Hi Lạp μεταφορά - nghĩa là sự chuyển) sự chuyển tên gọi dựa trên cơ sở sự giống nhau của sự vật về màu sắc, hình dạng, tính chất vận động v.v. Nói rộng ra, ẩn dụ là cơ chế của lời nói thể hiện trong cách dùng từ biểu hiện một lớp sự vật, hiện tượng nào đó v.v. để định tính hoặc gọi tên những đối tượng thuộc một lớp khác, hoặc gọi tên một lớp đối tượng khác tương đồng với lớp đã cho trong một quan hệ nào đó. Thuật ngữ "ẩn dụ" được áp dụng cho bất cứ cách dùng từ nào với nghĩa bóng. Ví dụ:

 

“Tổ quốc ta như một con tàu

 

Mũi thuyền ta đó – Mũi Cà Mau”. (Xuân Diệu)

 

 

 

“Trăng vào cửa sổ đòi thơ

 

Việc quân đang bận xin chờ hôm sau”. (Hồ Chí Minh)

 

Ẩn dụ là một dạng rất phổ biến của phép chuyển nghĩa, ở đó những từ hoặc biểu thức riêng lẻ xích gần lại với nhau do có sự giống nhau hoặc tương phản nhau về nghĩa. Ẩn dụ được cấu tạo theo nguyên tắc nhân hoá, vật hoá, trừu tượng hoá v.v. Ẩn dụ tăng cường tính biểu cảm của lời nói.

 

Lịch sử triết học chứng kiến hai quan điểm hoàn toàn trái ngược nhau về khả năng sử dụng ẩn dụ.

 

Các nhà triết học duy lí chủ nghĩa người Anh cho rằng lời nói trước hết phục vụ cho việc biểu đạt tư tưởng và truyền đạt kiến thức, và để thực hiện chức năng này chỉ cần những từ được dùng với nghĩa đen. Nhà triết học Anh Т. Hobbes[7] gọi ẩn dụ là "đám ma trơi" và ông tin rằng sử dụng ẩn dụ nghĩa là "đi lạng quạng giữa vô số những điều xằng bậy" (thực ra chính ông cũng không thể không dùng ẩn dụ). Một triết gia Anh J. Locke[8] - ông còn được mệnh danh là "lãnh tụ tri thức" - cho rằng việc dùng từ một cách hình ảnh gây ra những tư tưởng ngụy tạo và làm sai lạc sự suy nghĩ. Nhiều nhà triết học, nhiều học giả theo chủ nghĩa kinh nghiệm và thực dụng không đồng tình với việc sử dụng ẩn dụ trong các công trình khoa học. Họ đánh đồng việc dùng ẩn dụ với việc gây ra tội phạm (to commit a metaphor và to commit a crime).

 

Các nhà triết học và các học giả thuộc típ lãng mạn thì ngược lại, họ cho ẩn dụ là phương thức duy nhất không những để biểu hiện tư tưởng, mà còn biểu hiện bản thân tư duy. Chẳng hạn, F. Nietzsche[9], một trong những nhà sáng lập ra Triết học cuộc sống - cho rằng giữa chủ thể và khách thể có mối quan hệ mĩ học được biểu hiện bằng ẩn dụ. Do vậy không thể nào ngăn cấm con người sáng tạo ra ẩn dụ. Ông nhấn mạnh rằng sự nhận thức về nguyên tắc là mang tính ẩn dụ. Không có ẩn dụ chúng ta mất đi khả năng tranh luận về chân lí.

 

Tóm tắt một số quan điểm truyền thống về ẩn dụ:

 

Những quan điểm truyền thống về ẩn dụ được trình bày trong các công trình của Вain 1887, Вагfie1d 1962, Вlасk 1969, Соhen 1975, Empsоn 1935, Gооdman 1968, Henle 1958, Murry 1931, Verbrugge và Carrell 1977 v.v. Donald Davidson đã tóm tắt và phê phán các quan điểm đó, đồng thời phát biểu cách hiểu riêng của mình về ẩn dụ trong một bài báo có tựa đề "What Metaphors Mean" (Ẩn dụ nghĩa là gì) đăng trong "Critical Inquiry", 1978, № 5.

 

Davidson (1978) định nghĩa: "Ần dụ là giấc mơ của ngôn ngữ (dreamwork of language)". Ông cho rằng việc luận giải các giấc mơ đòi hỏi phải có sự hợp tác của người nằm mơ và của người luận giải ngay cả khi người nằm mơ và người luận giải là một người. Việc luận giải các ẩn dụ cũng đúng như thế. Nó mang trong mình dấu ấn của cả người sáng tạo và của cả người luận giải. Sự thấu hiểu (cũng như sự sáng tạo ra nó) là kết quả của những cố gắng sáng tạo: nó ít khi phục tùng các quy tắc.

 

Ẩn dụ thường gặp không những trong các tác phẩm văn học, mà còn trong khoa học, triết học, trong luật pháp, nó rất hiệu quả trong việc khen, chê, hứa hẹn, tâng bốc, sỉ nhục v.v.

 

1. Ần dụ và phép so sánh. Lí thuyết nghĩa hình ảnh của ẩn dụ: nghĩa hình ảnh của ẩn dụ là nghĩa đen của sự so sánh tương ứng (simile). Lí thuyết này không phân biệt ý nghĩa của ẩn dụ và ý nghĩa so sánh tương ứng với nó và không cho phép nói về ý nghĩa hình ảnh hoặc ý nghĩa đặc biệt của ẩn dụ.

 

Những lí thuyết về ẩn dụ bao gồm thuyết so sánh (so sánh tương ứng, so sánh tỉnh lược hoặc rút gọn), thuyết san bằng ý nghĩa hình ảnh của ẩn dụ với nghĩa đen của sự so sánh đều có cùng một khiếm khuyết chung lớn: chúng biến ý nghĩa ở chiều sâu, không hiện rõ của ẩn dụ thành quá rõ ràng, quá dễ hiểu. Trong mỗi trường hợp cụ thể, ý nghĩa hàm ẩn của ẩn dụ có thể phát hiện bằng cách chỉ ra sự so sánh tầm thường kiểu như "Cái này giống cái kia" ("Anh ta giống một đứa trẻ", "Trái đất giống cái đĩa"). Cách so sánh như thế này là tầm thường bởi vì cái gì mà chẳng giống cái gì? Trong khi đó ẩn dụ thường là rất khó thuyết giải và phỏng theo.

 

D. Goldman cho rằng sự khác nhau giữa so sánh và ẩn dụ không đáng kể... Chúng ta có dùng những từ "is like" 'giống' hoặc "is" 'là' hay không - điều đó không quan trọng lắm. Cái chính là cả trong trường hợp này, cả trong trường hợp kia đều khẳng định sự giống nhau giữa các sự vật và nêu ra một nét chung nào đó (Goldman 1987). Goldman phân tích sự khác nhau giữa hai phương thức biểu hiện: có thể nói "một bức tranh buồn", và cũng có thể nói "bức tranh giống như một người buồn". Đúng là cả hai cách biểu hiện đều san bằng bức tranh với con người. Nhưng, theo Davidson, rất sai lầm khi khẳng định rằng chúng "nêu ra" một nét chung nào đó. Việc so sánh nói lên rằng có một sự giống nhau, nhưng lại bắt chúng ta phải tự mình tìm ra nét chung, hoặc những nét chung nào đó. Ẩn dụ không khẳng định một cách hiển ngôn sự giống nhau, nhưng nếu chúng ta biết rõ rằng đó là ẩn dụ, thì chúng ta có nhiệm vụ tìm những nét chung nào đó.

 

Ẩn dụ hướng sự chú ý của chúng ta tới những dạng của sự giống nhau.

 

2. Ẩn dụ thuộc phạm vi sử dụng. Có quan điểm sai lầm, theo Davidson, cho rằng ẩn dụ bên cạnh nghĩa đen của từ còn tạo thêm một ý nghĩa khác nào đó. Nhiều người nghĩ về tính song nghĩa của ẩn dụ. Nghĩ như vậy là sai lầm. Cần phân biệt ý nghĩa của từ và sự sử dụng chúng. Ẩn dụ hoàn toàn thuộc phạm vi sử dụng. Ẩn dụ liên quan tới việc sử dụng từ và câu một cách hình ảnh (hình tượng) và hoàn toàn phụ thuộc vào nghĩa thông thường hay nghĩa đen của từ và của câu.

 

Không thể giải thích được từ hành chức như thế nào khi chúng tạo ra những ý nghĩa ẩn dụ và hình ảnh hoặc chúng biểu hiện chân lí ẩn dụ (metaphorical truth). Nghĩa đen và những điều kiện chân/nguỵ tương ứng có thể gán cho từ và câu không phụ thuộc vào những hoàn cảnh sử dụng đặc biệt nào.

 

Ẩn dụ buộc chúng ta phải lưu ý đến một sự giống nhau nào đó thường là mới và bất ngờ giữa hai (hoặc nhiều) sự vật. Chẳng hạn, hai bông hồng giống nhau bởi vì cả hai chúng đều thuộc về lớp bông hồng; hai đứa trẻ giống nhau bởi vì cả hai đều là trẻ con. Hoặc nói đơn giản hơn, các bông hồng giống nhau bởi vì mỗi bông đều là bông hồng; các trẻ em giống nhau là bởi vì mỗi đứa đều là trẻ con.

 

Cần phải phân biệt giữa việc nghiên cứu nghĩa của từ với việc nghiên cứu cách dùng từ khi nghĩa của từ ta đã biết. Có thể nghĩ rằng trong trường hợp thứ nhất, chúng ta sẽ biết được cái gì đó về ngôn ngữ, còn trong trường hợp thứ hai, ta sẽ biết được cái gì đó về thế giới. Có sự khác nhau giữa việc dạy cách dùng mới một từ đã quen và việc sử dụng từ đã biết. Trong trường hợp thứ nhất sự chú ý của chúng ta hướng tới ngôn ngữ, trong trường hợp thứ hai - hướng tới cái mà ngôn ngữ miêu tả. Ẩn dụ thuộc về trường hợp thứ hai.

 

Trong những trường hợp miệng người, miệng chai, thậm chí miệng vết thương, những từ miệng không phải là ẩn dụ bởi vì đó là những kết hợp từ vựng thông thường mang tính cố định.

 

Và vấn đề hoàn toàn không phải ở cái mới. Trong một bối cảnh nào đó, ẩn dụ được dùng hàng trăm lần, thậm chí hàng ngàn lần, thì nó vẫn cứ là ẩn dụ. Trong bối cảnh khác, nghĩa đen của từ có thể được nhận ra ngay ở lần sử dụng thứ nhất. Ẩn dụ vốn có một đặc điểm thẩm mĩ sau đây: nó bắt người đọc lần nào cũng phản ứng và cảm nhận cái mới giống như chúng ta lần nào nghe bản "Xonat ánh trăng" của Beethoven[10] cũng thấy mới, thấy hay.

 

Có thuyết cho rằng ẩn dụ tạo ra một nghĩa mới hay gọi là nghĩa mở rộng. Chẳng hạn, trong Kinh Thánh: "Spirit of God moved upon the face of water" 'Thần khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước'. Face nghĩa thông thường (nghĩa đen) là mặt người, nhưng ở đây nó được dùng như một ẩn dụ với nghĩa mở rộng: mặt nước. Hiện tượng này các nhà triết học gọi là hiện tượng mở rộng nghĩa (extension of the word).

 

Cách giải thích như thế này không thể gọi là đầy đủ bởi vì nếu trong bối cảnh đã nêu, từ face thực sự có quan hệ với nước, thì hoá ra nước có "mặt", và như vậy bản chất của ẩn dụ trong trường hợp này đã biến mất. Nếu cho rằng các từ trong ẩn dụ có quy chiếu trực tiếp đến đối tượng, thì sự khác nhau giữa ẩn dụ và việc đưa từ mới vào vốn từ vựng bị xoá nhoà. Giải thích ẩn dụ theo kiểu này, thì coi như là giết nó.

 

Hiện nay còn đang bỏ ngỏ nghĩa sơ cấp, hay nghĩa đen của từ. Ẩn dụ có phụ thuộc vào nghĩa mới, hay nghĩa mở rộng không, - đó còn là vấn đề. Nhưng còn chuyện ẩn dụ phụ thuộc vào nghĩa đen của từ, thì điều này không còn nghi ngờ gì nữa: nghĩa sơ cấp hoặc nghĩa đen của từ vẫn còn ngay cả trong trường hợp sử dụng chúng như ẩn dụ.

 

3. Ẩn dụ và nghĩa đen của từ. Có một lối thoát đơn giản ra khỏi chỗ bế tắc này: chúng ta cần phải từ bỏ ý nghĩ cho rằng ẩn dụ mang một nội dung nào đó, hoặc có một ý nghĩa nào đó, tất nhiên ngoài nghĩa đen. Tất cả những lí thuyết chúng ta vừa bàn đến đều không hiểu mục đích của mình. Sai lầm của những thuyết ấy là ở chỗ chúng tập trung vào nội dung của những tư tưởng do ẩn dụ gợi ra, rồi đưa cái nội dung đó vào cho bản thân ẩn dụ. Tất nhiên ẩn dụ thường giúp chúng ta nhận ra những thuộc tính của sự vật mà trước đây chúng ta chưa nhận ra; tất nhiên, chúng mở ra trước mắt chúng ta những sự tương tự và giống nhau; chúng là một cái gì đó giống như chiếc thấu kính qua đó chúng ta khảo sát các đối tượng. Song vấn đề không phải ở chỗ đó, mà là ở chỗ bằng cách nào ẩn dụ có liên quan đến cái mà nó bắt chúng ta phải nhìn thấy. Ẩn dụ bắt chúng ta nhìn thấy đối tượng này thông qua đối tượng khác.

 

4. Ần dụ và những điều kiện chân/ngụy. Những thuộc tính của ẩn dụ có thể được giải thích bằng nghĩa đen của những từ có chứa ẩn dụ. Từ đó có thể suy ra rằng, có thể xác định những mệnh đề có chứa ẩn dụ là chân hay nguỵ một cách thông thường nhất, bởi vì nếu những từ có trong các mệnh đề ấy không có ý nghĩa gì đặc biệt, thì những mệnh đề ấy cũng không cần có những điều kiện đặc biệt về tính chân/nguỵ. Điều này hoàn toàn không phủ nhận sự tồn tại của chân lí ẩn dụ, chỉ phủ nhận sự tồn tại của nó trong phạm vi mệnh đề.

 

Nếu những mệnh đề ẩn dụ là chân hoặc nguỵ với ý nghĩa thông thường nhất, thì rõ ràng rằng chúng thường là nguỵ. Sự khác nhau về ngữ nghĩa rõ rệt nhất giữa ẩn dụ và so sánh thể hiện ở chỗ tất cả các so sánh đều là chân, còn đa số ẩn dụ là nguỵ. Khi nói "Trái đất giống cái đĩa hoặc quả cầu", thì trong thực tế trái đất giống cái đĩa hoặc quả cầu thực. Nhưng hãy làm cho câu này trở thành ẩn dụ, thì lập tức nó là nguỵ. Trái đất đúng là giống cái đĩa hoặc quả cầu, song nó không phải là cái đĩa hoặc quả cầu. Thường chúng ta dùng phép so sánh chỉ khi nào chúng ta biết rằng ẩn dụ tương ứng là nguỵ. Chúng ta nói "T giống con heo", bởi vì chúng ta biết rằng anh ta không phải là con heo. Nếu chúng ta dùng ẩn dụ để nói rằng anh ta là con heo, thì điều đó là hoàn toàn có thể, nhưng không phải bởi vì chúng ta nhìn thế giới một cách khác đi, mà đơn giản là bởi vì chúng ta muốn biểu hiện tư tưởng của mình bằng một phương thức khác.

 

Không một lí thuyết nào về ý nghĩa ẩn dụ hoặc chân lí ẩn dụ có đủ sức thuyết giải vấn đề ẩn dụ hành chức như thế nào? Ngôn ngữ ẩn dụ không khác với ngôn ngữ của những câu ở dạng đơn giản nhất. Cái làm phân biệt ẩn dụ không phải ý nghĩa, mà là cách sử dụng. Và ở đây ẩn dụ giống như những hành động lời nói: khẳng định, ám chỉ, nói dối, hứa hẹn, biểu thị sự không hài lòng v.v. Việc sử dụng ngôn ngữ trong ẩn dụ không phải với nghĩa là phải "nói một cái gì đó" đặc biệt, được nguỵ trang ở mức độ nào đó. Bởi vì ẩn dụ chỉ nói cái nằm ngay trên bề mặt của nó - thường là cái không phải là sự thật hoặc là cái chân lí vô nghĩa. Những cái chân lí vô nghĩa và không sự thật này không cần ở sự khúc giải, cải biên, chúng có ngay trong nghĩa đen của từ.

 

5. Ẩn dụ và trò chơi chữ. Ẩn dụ xa lạ đối với trò chơi chữ. Trong ẩn dụ có hai nghĩa khác nhau - nghĩa đen và nghĩa hình ảnh. Chúng tồn tại đồng thời. Có thể hình dung nghĩa đen như là nghĩa ẩn, còn nghĩa hình ảnh mới mang trọng trách chính.

 

Trong trường hợp "da trắng vỗ bì bạch" không có ẩn dụ nào, chỉ có lối chơi chữ dựa trên hiện tượng đồng nghĩa của từ gốc Việt và từ Hán-Việt: da = bì, trắng = bạch.

 

6. Ẩn dụ và từ đa nghĩa. Lại có thuyết chủ trương rằng ẩn dụ là một trong những nghĩa của từ đa nghĩa. Điều này rõ ràng không phù hợp với cách hiểu ẩn dụ. Khi nói "hắn ta là một con chó sói", trong trường hợp này "chó sói" được dùng như một ẩn dụ chứ không phải là nghĩa thứ hai của từ này, nghĩa là nó vẫn giữ mối quan hệ với lớp loài vật có tên gọi là chó sói, song nó được dùng để định tính chủ thể.

 

7. Ẩn dụ là phương thức tư duy. D. Davidson không thừa nhận ẩn dụ mang một nghĩa nào đó khác ngoài nghĩa đen của từ. Nghĩa của ẩn dụ hoàn toàn phụ thuộc vào nghĩa đen của từ, nó không phải là một nghĩa trong từ đa nghĩa. Ẩn dụ liên quan đến cách dùng từ, nghĩa là nó thuộc phạm vi lời nói. Nghĩa của ẩn dụ không phải là cái gì khác ngoài nghĩa đen của từ được dùng trong lời nói. Ẩn dụ không phải là so sánh. Phép so sánh phát hiện sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật và hiện tượng. Ẩn dụ nhờ sự giống nhau giúp ta nhìn thấy đối tượng này thông qua đối tượng khác. Do đó có thể hiểu rằng ẩn dụ là một phương thức tư duy. Chính điều này đã làm cho những tư tưởng của Davidson xích gần lại với ngôn ngữ học tri nhận.

 

8. Quan điểm thay thế. Bất kì lí thuyết nào chủ trương rằng biểu thức ẩn dụ luôn luôn được dùng thay cho một biểu thức nghĩa đen nào tương đương với nó đều có thể được gọi là quan điểm thay thế đối với ẩn dụ (a substitution view of metaphor). Cho đến nay nhiều nhà nghiên cứu còn theo quan điểm này. Сhẳng hạn, có người phát biểu rằng ẩn dụ là một từ thay thế cho một từ khác do hiệu lực của sự giống nhau hoặc tương đồng giữa cái mà chúng biểu hiện. Từ điển Oxford định nghĩa: "Ẩn dụ là một lối nói thể hiện ở chỗ danh từ hoặc một biểu thức miêu tả chuyển sang một đối tượng nào đó khác với đối tượng mà biểu thức này được ứng dụng, nhưng tương tự với nó về một cái gì đó; kết quả của việc đó cho ra một biểu thức ẩn dụ" (dẫn theo Black 1962). Nói đơn giản hơn: "Ẩn dụ là nói ra một điều, nhưng lại ám chỉ một điều khác".

 

Theo quan điểm thay thế, ẩn dụ dùng để truyền đạt cái ý mà về nguyên tắc có thể được biểu hiện một cách trực tiếp (theo nghĩa đen). Tác giả dùng M thay cho L; nhiệm vụ của người đọc là thực hiện việc thay thế ngược lại: trên cơ sở nghĩa đen của biểu thức M xác lập nghĩa đen của biểu thức L. Việc hiểu ẩn dụ giống như việc giải mã hoặc giải câu đố.

 

9. Quan điểm tương tác. Quan điểm tương tác đối với ẩn dụ do M.Black (Black 1962) chủ trương gồm bảy điểm sau đây:

 

(1) Ẩn dụ có hai chủ thể khác nhau: một chủ thể chính và một chủ thể phụ.

 

(2) Những chủ thể này nếu được xem như những hệ thống (systems of things) thì có lợi hơn là xem chúng như những đối tượng (things).

 

(3) Cơ chế ẩn dụ thể hiện ở chỗ chủ thể chính được kèm theo một hệ thống "những hàm ngôn liên tưởng" có liên hệ với chủ thể phụ.

 

(4) Những hàm ngôn này chính là những liên tưởng đã được thừa nhận, trong ý thức của người nói chúng liên hệ với chủ thể phụ, nhưng trong một số trường hợp, đó có thể là những hàm ngôn không chuẩn do tác giả xác lập một cách ad hoc[11].

 

(5) Ẩn dụ dưới dạng hàm ngôn chứa đựng những phán đoán về chủ thể chính có thể ứng dụng cho chủ thể phụ. Nhờ đó ẩn dụ lựa chọn, trừu suất và tổ chức những đặc tính hoàn toàn xác định của chủ thể chính và loại bỏ những đặc tính khác.

 

(6) Điều đó kéo theo những thay đổi trong nghĩa của những từ thuộc cùng nhóm hay cùng hệ thống với biểu thức ẩn dụ. Một số trong những thay đổi đó có thể trở thành những chuyển nghĩa ẩn dụ.

 

(7) Nói chung không có những sự "gán ép" nào bắt buộc đối với sự thay đổi nghĩa, không có quy tắc chung nào cho phép giải thích tại sao một số ẩn dụ có thể chấp nhận sự thay đổi nghĩa, số khác thì không. Chỉ cần so sánh đơn giản cũng có thể thấy rằng mục (1) không tương thích với những hình thái đơn giản nhất của quan điểm "thay thế", mục (7) không ăn khớp với quan điểm "so sánh", còn những mục khác thì không chấp nhận quan điểm so sánh.

 

Song cũng không nên quá nhấn mạnh sự khác nhau giữa ba quan điểm ấy. Ẩn dụ-thay thế và ẩn dụ-so sánh hoàn toàn có thể được thay bằng cách trực dịch, tất nhiên có bị mất đi một phần nào đó vẻ đẹp sắc sảo và sinh động, nhưng không bị mất đi nội dung tri nhận. Còn "ẩn dụ-tương tác" thì không thể được bổ sung bằng bất cứ cái gì. Cơ chế của chúng đòi hỏi độc giả phải sử dụng hệ thống hàm ngôn hoặc hệ thống "những liên tưởng đã được thừa nhận" hoặc hệ thống đặc biệt được tạo ra cho trường hợp cụ thể đã cho. Việc sử dụng "chủ thể phụ" với mục đích để hiểu sâu hơn tính chất của "chủ thể chính" là một thao tác trí tuệ đặc biệt đòi hỏi phải đồng thời có mặt trong ý thức những biểu tượng về cả hai chủ thể, nhưng không dẫn tới so sánh chúng một cách đơn giản.

 

Ngày nay, các nhà nghiên cứu quan tâm đến ẩn dụ đã mở rộng phạm vi ứng dụng và nghiên cứu của nó ra nhiều lĩnh vực của tri thức: triết học, lôgic học, tâm lí học, thần kinh học v.v., tạo ra nhiều khuynh hướng, trường phái ngôn ngữ học, lí thuyết thông tin, xúc tiến sự tác động lẫn nhau và hội nhập các tư tưởng khoa học mà hệ quả là hình thành khoa học tri nhận. Ẩn dụ là chìa khoá mở ra sự hiểu biết những cơ sở của tư duy và các quá trình nhận thức những biểu tượng tinh thần về thế giới. Với ý nghĩa đó ẩn dụ đã trở thành sự quan tâm của một ngành khoa học mới – ngôn ngữ học tri nhận (x. các mục từ Cognitive linguistics – Ngôn ngữ học tri nhận; Cognitive metaphor - Ẩn dụ tri nhận).

 

 

 

ẨN DỤ CẤU TRÚC (structural metaphor)

 

Ần dụ cấu trúc là loại ẩn dụ khi nghĩa (hoặc giá trị) của một từ (hay một biểu thức) này được hiểu (được đánh giá) thông qua cấu trúc của một từ (hoặc một biểu thức) khác.

 

Ẩn dụ cấu trúc có đặc điểm cấu trúc hai không gian được gọi là hai miền ý niệm: MIỀN NGUỒN (source domain) và MIỀN ĐÍCH (target domain). Ý niệm tại miền đích được hiểu thông qua ý niệm tại miền nguồn. Quan hệ giữa miền nguồn và miền đích là quan hệ ánh xạ, nghĩa là nội dung của ý niệm tại miền đích được ánh xạ từ ý niệm tại miền nguồn. Ví dụ (dẫn theo Lakoff và Johnson):

 

ARGUMENT IS WAR ('Tranh luận là chiến tranh'), trong đó WAR thuộc miền nguồn, ARGUMENT thuộc miền đích. Ý niệm WAR ‘chiến tranh’ giúp chúng ta hiểu nghĩa của ý niệm ARGUMENT ‘tranh luận’. (xem sơ đồ dưới đây)

 

 

 

 

 

Lakoff và Johnson lí giải ẩn dụ cho trên như sau:

 

 

 

ARGUMENT IS WAR

 

TRANH LUẬT LÀ CHIẾN TRANH

 

 

 

Your claims are indefensible

 

'Những điều khẳng định của bạn không thể bảo vệ được' (nghĩa là không chịu nổi sự phê phán).

 

 

 

Не attacked every weak points in my argument

 

'Anh ta tấn công vào từng điểm yếu trong lập luận của tôi'.

 

 

 

His criticisms were right on target

 

'Những lời nhận xét phê phán của anh ta đánh trúng đích'.

 

 

 

I demolished his argument

 

'Tôi đập tan luận chứng của anh ta'.

 

 

 

I've never won an argument with him

 

'Tôi không bao giờ chiến thắng trong những cuộc tranh luận với anh ta'.

 

 

 

Các tác giả nhận xét rằng chúng ta nói và hiểu về những cuộc tranh luận bằng những thuật ngữ chiến tranh. Song không đơn thuần như thế. Nhiều điều chúng ta làm thực tế trong những cuộc tranh luận một phần được ngữ nghĩa hoá trong khái niệm chiến tranh. Trong tranh luận không có những trận chiến đấu, nhưng lại có cuộc chiến bằng ngôn từ, và điều đó được phản ánh trong cấu trúc của cuộc tranh luận: tấn công, bảo vệ, phản công v.v. Chính với ý nghĩa đó ẩn dụ 'Tranh luận là chiến tranh" thuộc số những ẩn dụ mà chúng ta "đang sống" trong nền văn hoá của chúng ta: nó sắp đặt những hành động mà chúng ta thực hiện trong cuộc tranh luận.

 

Bản chất của ẩn dụ là ở sự ngữ nghĩa hoá và cảm nhận những hiện tượng loại này trong thuật ngữ các hiện tượng loại khác. Vấn đề hoàn toàn không phải ở chỗ tranh luận là một dạng của chiến tranh. Tranh luận và chiến tranh là những hiện tượng khác nhau: một đằng là sự trao đổi bằng ngôn từ những lời thoại, đằng kia là cuộc xung đột vũ trang, và trong mỗi trường hợp như thế, thực hiện những hành động có bản chất khác nhau. Vấn đề là ở chỗ một phần "cuộc tranh luận" được sắp xếp, được hiểu, được thực hiện như là một cuộc chiến tranh, và vì vậy người ta nói về nó bằng những thuật ngữ chiến tranh. Đồng thời ý niệm được điều chỉnh lại theo kiểu ẩn dụ, hoạt động tương ứng được điều chỉnh lại theo kiểu ẩn dụ, và do đó ngôn ngữ cũng được điều chỉnh lại theo kiểu ẩn dụ.

 

Cái ẩn dụ này được thể hiện không chỉ ở chỗ chúng ta nói về cuộc tranh luận như thế nào, mà còn cả ở chỗ chúng ta hiểu nó như thế nào. Ngôn ngữ của cuộc tranh luận không phải là thơ ca, cũng không phải mang tính chất viễn tưởng, cũng không phải là văn chương hùng biện. Đây là ngôn ngữ của những nghĩa đen. Chúng ta nói về những cuộc tranh luận như thế này chứ không như thế khác là bởi vì ý niệm của chúng ta về cuộc tranh luận đúng là như thế, và chúng ta hành động tương ứng với cách chúng ta hiểu những hiện tượng tương ứng. Kết luận quan trọng nhất từ tất cả những điều nói ở trên là ẩn dụ không bị hạn chế chỉ bởi một phạm vi nào của ngôn ngữ, nghĩa là phạm vi ngôn từ: bản thân các quá trình tư duy của con người ở mức độ đáng kể đều mang tính chất ẩn dụ. Chính đó là điều dẫn đến khẳng định rằng hệ thống ý niệm của con người được sắp xếp lại và được xác định theo kiểu ẩn dụ. Ẩn dụ với tư cách là biểu thức ngôn ngữ trở nên khả dĩ chính bởi vì có tồn tại ẩn dụ trong hệ thống ý niệm của con người.

 

Cách hiểu của Lakoff và Johnson có thể được minh họa bằng những ẩn dụ lấy trong tiếng Việt:

 

 

 

BÓNG ĐÁ LÀ CHIẾN TRANH

 

Báo "Thanh niên" ngày 24.6.2006) đăng bài "CHIẾN TRANH BÓNG ĐÁ"

 

"Tối nay Đức sẽ tiếp Thuỵ điển, mở đầu cho giai đoạn 2 VCK World Cup 2006. Trong một trận đấu knock-out như vậy, chẳng ai muốn sớm gặp phải đội chủ nhà. Hôm nay, Thuỵ Điển phải làm cái việc không ai muốn đó. Và vô tình họ hâm nóng lại "cuộc chiến tranh lạnh" giữa hai quốc gia, xảy ra từ năm 1958.

 

Ngày ấy J. Klinsmann chưa ra đời. Và người đồng nhiệm L. Lagerback cũng chỉ là một cậu bé 8 tuổi. Thế nhưng chiến tranh đã xảy ra, thực sự.

 

Xe du khách Thuỵ Điển hết xăng, các trạm bơm ở Đức từ chối đổ, Quốc kì Thuỵ Điển trên đất Đức bị kéo hạ và các món ăn vùng Scandinavia cũng bị xoá bỏ khỏi thực đơn trong hệ thống nhà hàng. Người ta gọi đó là "Cuộc chiến tranh lạnh", bùng nổ thực sự sau trận bán kết World Cup 1958 tại Gothenburg.

 

Ngày ấy, Thuỵ Điển phá bỏ luật lệ FIFA, đưa đội Cheer Leader vào sân, kích động các cổ động viên hò hét ầm ỹ, hoà cùng hệ thống loa trên sân mở hết công suất. Đội tuyển Đức rớt đúng vào thế "thập diện mai phục" và 9 cầu thủ của họ đã bị đánh bại 3-1, với 2 bàn thắng trong những phút cuối trận + 2 tấm thẻ đỏ mà chỉ cần chạm nhẹ vào đội chủ nhà, các cầu thủ Đức đã phải rời sân..."

 

Cách miêu tả trận bóng đá bằng những thuật ngữ chiến tranh như "chiến tranh lạnh", "trận đấu", "bùng nổ", "xảy ra" đã tạo ra một hệ thống ẩn dụ của đời thường:

 

Ần dụ: Bóng đá là chiến tranh.

 

Cấu trúc nghĩa biểu trưng của chiến tranh bao gồm những thuật ngữ:

 

"chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh"

 

"chiến tranh bùng nổ" (bóng đá bùng nổ)

 

"chiến tranh xảy ra" (trận bóng đá xảy ra)

 

Và trong những bài bình luận bóng đá khác ta có thể gặp những thuật ngữ chiến tranh như:

 

"đội bóng tân binh"; "đội bóng cựu binh"; "cỗ xe tăng Đức"; "tấn công"; "rút lui"; "hành quân" v.v. (“Pháp cũng sẽ hành quân đến Bosnia-Herzegovina để chơi trận giao hữu...").

 

Trong bóng đá cũng có đánh nhau (bằng tay, bằng chân, thậm chí húc đầu vào ngực đối thủ) như trong chiến tranh.

 

Rõ ràng là ẩn dụ chiến tranh đã giúp ta hiểu thêm những điều trước đây ta chưa biết về bóng đá, về tính chất quyết liệt của nó như một trận đánh trong chiến tranh tuy không có tiếng súng nổ, không có bom đạn, xe tăng, máy bay, tàu thủy, không có người chết (nhưng có nhiều người bị thương phải chữa trị lâu). Nhân thể nói về súng đạn trong bóng đá, báo Thanh niên (số 228, 16.8.2006) đưa tin huấn luyện viên Steve Staunton đã bị một người đàn ông đe dọa bằng súng ngắn...Và đây là lần thứ hai (lần thứ nhất cách đây ba năm... hai kẻ bịt mặt được trang bị súng ngắn tấn công các cầu thủ Ireland...). Lại nữa: Esteban bị sát hại vì đá phản lưới nhà năm 1994; đội bóng đá Gana bị phục kích bằng súng tiểu liên trên đường đi dự giải bóng đá châu Phi năm 2009.

 

 

 

ẨN DỤ ĐỊNH HƯỚNG (orientational metaphor)

 

Ẩn dụ định hướng cấu trúc hoá một số miền và tạo nên một hệ thống ý niệm hoá chung cho chúng; chúng liên quan đến việc định hướng trong không gian với những đối lập kiểu như "lên-xuống", "vào-ra", "sâu-cạn", "trung tâm-ngoại vi" v.v. Chẳng hạn, trong tiếng Anh, "hạnh phúc, sức khoẻ, có ý thức, hợp lí" được miêu tả thông qua ẩn dụ up (trên, lên), trong khi đó "bất hạnh, đau ốm, chết chóc" - thông qua ẩn dụ down (dưới, xuống)[12].

 

Ẩn dụ định hướng khác với ẩn dụ cấu trúc ở chỗ nó là một loại ẩn dụ ý niệm khi không có sự xếp đặt lại về mặt cấu trúc một ý niệm này trong thuật ngữ của một ý niệm khác, nhưng có tồn tại tổ chức của cả một hệ thống ý niệm theo mẫu của một hệ thống nào đó khác. Những trường hợp như vậy ta gọi là những ẩn dụ định hướng, bởi vì đa số những ẩn dụ tương tự có liên quan đến sự định hướng không gian với những cặp đối lập kiểu "trên-dưới", “trong-ngoài”, “trước-sau”, “sâu-nông”, “trung tâm-ngoại vi”. Những cặp đối lập định hướng tương tự xuất phát từ chỗ thân thể của chúng ta có những thuộc tính nhất định và hoạt động theo một kiểu nhất định trong thế giới vật lí xung quanh ta. Những ẩn dụ định hướng tạo cho ý niệm giá trị định hướng không gian, chẳng hạn, "HAPPY IS UP" (Hạnh phúc là ở trên). Ý niệm "hạnh phúc (thành đạt, kết quả) được định hướng lên trên (the concept "happy is oriented UP”) và được biểu đạt trong tiếng Anh là I'm feeling up today 'Hôm nay tôi cảm thấy (phấn chấn) lên'.

 

Những cách định hướng ẩn dụ tương tự hoàn toàn không võ đoán, chúng dựa vào kinh nghiệm vật lí (thể chất) và văn hoá của chúng ta. Mặc dù những đối lập hai cực “trên-dưới”, “trong-ngoài” v.v. có bản chất vật lí, nhưng những ẩn dụ định hướng dựa trên những đối lập đó có thể biến dạng từ nền văn hoá này sang nền văn hoá khác. Ví dụ, trong một số nền văn hoá, tương lai ở phía trước ta, trong một số nền văn hoá khác thì nó lại ở đằng sau ta. Tiếng Việt có những phương thức đặc thù biểu hiện cách định hướng so với một số ngôn ngữ khác.

 

Để minh hoạ cho những ý kiến này, xin hãy xem xét những ẩn dụ định hướng không gian văn hoá của chúng ta.

 

 

 

HẠNH PHÚC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

 

NỖI BUỒN ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

 

 

 

(1) 'Tôi cảm thấy phấn chấn hẳn lên".

 

(2) "Bài thơ đó đã nâng tâm hồn tôi lên".

 

(3) "Tâm trạng của tôi được nâng lên".

 

(4) "Đời lên hương".

 

(5) "Những ý nghĩ về nàng luôn luôn làm tôi phấn khởi lên".

 

(6) 'Tinh thần bị suy sụp"

 

(7) "Giá cả giảm xuống"

 

(8) "Tôi rơi xuống vực sâu của sự chán nản"

 

 

 

Trong tiếng Việt, những từ như phấn chấn, vui, phấn khởi, nâng v.v. vốn đã định hướng lên trên, còn những từ như giảm, sụp, hạ thấp, rơi v.v. vốn đã định hướng xuống dưới, do đó có những trường hợp dùng lên hoặc xuống là không bắt buộc. Chẳng hạn, (1), (2), (5), (6), (7).

 

 

 

Cơ sở vật lí: Nỗi buồn và chán đè nặng con người và anh ta cúi đầu xuống, còn những cảm xúc tích cực (dương tính) thì làm cho anh ta thoải mái và ngẩng đầu lên.

 

 

 

TRẠNG THÁI CÓ Ý THỨC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

 

TRẠNG THÁI VÔ Ý THỨC ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

 

 

 

(1) "Hãy đứng lên!"

 

(2) "Hãy vui lên!"

 

(3) "Anh ta mệt quá nằm xuống nghỉ một chút".

 

(4) "Cậu học trò buồn ngủ gục xuống bàn".

 

 

 

Cơ sở vật lí: Con người và đa số động vật có vú ngủ nằm, còn khi thức dậy thì đứng lên.

 

 

 

KHỎE ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

 

BỆNH, CHẾT ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

 

 

 

(1) "Tôi thấy khỏe lên".

 

(2) "Phải giữ gìn sức khỏe, không may ốm xuống thì khốn".

 

 

 

(3) "Sống làm vợ khắp người ta,

 

Đến khi chết xuống làm ma không chồng" (Ca dao).

 

 

 

Cơ sở vật lí. Bệnh nặng buộc con người phải nằm. Người chết thì xuống dưới mồ.

 

NẮM QUYỀN LỰC (SỨC MẠNH) ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

 

KHÔNG CÓ QUYỀN LỰC (SỨC MẠNH) ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

 

 

 

(1) "Anh ta là người có địa vị (cao) trong xã hội, tôi chẳng có địa vị gì (thấp bé)".

 

(2) "Quyền cao chức trọng".

 

(3) "Thăng chức".

 

(4) "Hạ (giáng) chức".

 

(5) "Thượng bất chính, hạ tắc loạn".

 

(6) "Báo cáo lên cấp trên, chỉ thị xuống cấp dưới".

 

(7) "Ngửa mặt kêu Trời".

 

(8) "Trời cao đất thấp".

 

(9)"Thấp cổ bé họng".

 

(10) "Giương cao cờ chiến thắng".

 

 

 

Cơ sở vật lí. Kích thước vật lí thường tương quan với lực vật lí, còn người chiến thắng trong đấu vật thường nằm trên.

 

 

 

CÁI TỐT ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

 

CÁI XẤU ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI

 

 

 

(1) "Anh ta ngày càng tốt lên" (không thể nói: tốt xuống).

 

(2) "Anh ta ngày càng xấu đi" (không thể nói: xấu lên, hoặc xấu xuống).

 

(3) "Sản phẩm của nhà máy này chất lượng đang đi xuống".

 

(4) "Chất lượng đào tạo ngày càng thấp xuống".

 

(5) "Anh ta ngày càng phất lên".

 

(6) "Hồ sơ mỗi lúc một dày lên".

 

 

 

Trong tiếng Việt, có những trường hợp thay vì "lên" có thể dùng "ra", thay vì "xuống" có thể dùng "đi" để chỉ quá trình, chẳng hạn, đẹp ra, mập ra, khôn ra, dài ra; già đi, xấu đi, ốm (gầy) đi.

 

Cơ sở vật lí cho sự hưng thịnh cá nhân. Hạnh phúc, sức khoẻ, cuộc sống và sự hưng thịnh, nghĩa là tất cả những gì nói lên sự tốt đẹp đối với con người thì định hướng lên trên.

 

 

 

ĐẠO ĐỨC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

 

VÔ ĐẠO ĐỨC ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI.

 

 

 

(1) "Anh ta rất cao thượng".

 

(2) "Âm mưu thấp hèn".

 

(3) "Ơn cao nghĩa cả"

 

(4) "Ngẩng cao đầu".

 

(5) "Hạ thấp mình".

 

(6) "Hạ nhục".

 

(7) "Chị ngã, em nâng"

 

 

 

Cơ sở vật lí và xã hội. Là một người có đạo đức nghĩa là hành động phù hợp với những chuẩn mực đạo đức do xã hội/cá nhân đặt ra để duy trì sự hưng thịnh của nó. Đạo đức là trên, bởi vì những hành vi có đạo đức tương quan với sự hưng thịnh của xã hội, theo quan điểm của xã hội/cá nhân. Do chỗ những ẩn dụ có lí do xã hội làm thành một bộ phận của văn hoá, nên quan điểm của xã hội/cá nhân có ý nghĩa quyết định ở đây.

 

 

 

ẦN DỤ TRI NHẬN/ Ý NIỆM (cognitive/ conceptual metaphor)

 

Các nhà ngôn ngữ học tri nhận một thời đã tranh luận gay gắt về ẩn dụ. Cuộc tranh luận bắt đầu từ những công trình nghiên cứu của E. Cassirer 1946 về các hình thức biểu trưng trong văn hoá. Ông quan tâm đến giai đoạn tư duy tiền logic đang còn lưu lại dấu ấn trong ngôn ngữ, trong thần thoại học, nghệ thuật, tôn giáo. Trong ngôn ngữ có cả những hình thái biểu hiện tư duy logic và cả tư duy thần thoại. Cassirer đi tìm cơ sở biểu tượng thần thoại về thế giới trong ẩn dụ. Khác với Nietzsche, ông phân biệt hai dạng hoạt động tinh thần: dạng ẩn dụ (thần thoại-thi ca) và dạng logic-diễn ngôn. Dạng thứ hai này hình thành các khái niệm và các quy luật của khoa học tự nhiên. Việc nhận thức thế giới bằng ẩn dụ góp phần hình thành tư duy trong các khoa học nhân văn.

 

Chức năng nhận thức của ẩn dụ thể hiện ở chỗ nó không chỉ hình thành biểu tượng về đối tượng, mà nó còn quy định cả phương thức và phong cách tư duy về đối tượng. Căn cứ vào chức năng tri nhận, ẩn dụ chia thành hai loại: loại cơ sở và loại thứ yếu. Khác với loại thứ yếu, những ẩn dụ cơ sở quy định phương thức tư duy về thế giới (bức tranh thế giới) hoặc về những bình diện nền tảng của nó.

 

Những ẩn dụ mà trước kia chủ yếu do các nhà dân tộc học và văn hoá học nghiên cứu đã trở thành sự quan tâm của các chuyên gia về tâm lí học tư duy và phương pháp luận khoa học. Những sự tương tự dựa trên ẩn dụ cơ sở đã được đưa thành hệ thống thuộc lí thuyết khung (kịch bản) do M. Minsky chủ xướng. Những sự tương tự như thế tạo khả năng nhìn thấy sự vật hoặc tư tưởng "với những chất lượng" của vật thể hoặc tư tưởng khác, điều đó cho phép áp dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm thu được trong lĩnh vực này để giải quyết những vấn đề thuộc lĩnh vực khác. Theo Minsky, ẩn dụ thúc đẩy sự hình thành những mối liên hệ giữa các khung tạo ra những tri thức mới.

 

Ẩn dụ tri nhận (hay còn gọi là ẩn dụ ý niệm – cognitive/conceptual metaphor) – đó là một trong những hình thức ý niệm hoá, một quá trình tri nhận có chức năng biểu hiện và hình thành những ý niệm mới và không có nó thì không thể nhận được tri thức mới. Về nguồn gốc, ẩn dụ tri nhận đáp ứng năng lực của con người nắm bắt và tạo ra sự giống nhau giữa những cá thể và những lớp đối tượng khác nhau.

 

Ần dụ là một cơ chế tri nhận nhờ đó những tri giác liên tục, tương tự đã trải qua quá trình phạm trù hoá được đánh giá lại trong những bối cảnh ý niệm mới.

 

Với cách tiếp cận chung nhất, ẩn dụ được xem như là cách nhìn một đối tượng này thông qua một đối tượng khác, và với ý nghĩa đó, ẩn dụ là một trong những phương thức biểu tượng tri thức dưới dạng ngôn ngữ. Ẩn dụ thường có quan hệ không phải với những đối tượng cô lập riêng lẻ, mà với những không gian tư duy phức tạp (những miền kinh nghiệm cảm tính và xã hội). Trong quá trình nhận thức, những không gian tư duy không thể quan sát trực tiếp này thông qua ẩn dụ xác lập mối tương quan với những không gian tư duy đơn giản hơn hoặc với những không gian tư duy có thể quan sát được cụ thể (chẳng hạn, cảm xúc của con người có thể so sánh với lửa, các lĩnh vực kinh tế và chính trị có thể so sánh với các trò chơi, với các cuộc thi thể thao v.v.). Trong những biểu tượng ẩn dụ tương tự diễn ra việc chuyển ý niệm hoá không gian tư duy không thể quan sát trực tiếp được sang không gian có thể quan sát trực tiếp được. Trong quá trình này, không gian không thể quan sát trực tiếp được ý niệm hoá và nhập vào trong một hệ thống ý niệm chung của một cộng đồng ngôn ngữ nhất định. Đồng thời cùng một không gian tư duy có thể được biểu tượng nhờ một hoặc một số ẩn dụ ý niệm (G. Lakoff, M. Johnson 1980, G. Lakoff 1987, M. Reddy 1979, R. Langacker 1991).

 

Ẩn dụ tri nhận trong ngôn ngữ. G. Lakoff đã biến vấn đề truyền thống này thành một trong những phạm vi nghiên cứu rất phổ biến của ngôn ngữ học và một loạt những khoa học kế cận. Lí thuyết của ông được trình bày trong quyển sách Metaphors We Life by (Ẩn dụ chúng ta đang sống) xuất bản cùng với nhà triết học M. Johnson năm 1980. Ở đây ẩn dụ được xem là công cụ tạo nghĩa cho những phạm vi khái niệm mới gần với kinh nghiệm trực tiếp của con người. Ví dụ, việc sử dụng thuần tuý hình học định ngữ "cao" trong cụm từ người cao, cây cao và việc chuyển nghĩa ẩn dụ sang các lĩnh vực cơ học (tốc độ cao), nhiệt học (nhiệt độ cao) và điện năng (điện thế cao), đạo đức học (trách nhiệm cao), mĩ học (nghệ thuật cao), các quan hệ xã hội (địa vị cao), hoạt động lao động (tay nghề cao) v.v. Lakoff cùng với các đồng nghiệp của mình ngay từ năm 1989 đã soạn một danh sách cơ sở những ẩn dụ trong tiếng Anh theo phương pháp nghiên cứu rất độc đáo của ngôn ngữ học tri nhận.

 

 

 

Bản chất của ẩn dụ

 

Ẩn dụ là cơ chế chính thông qua đó chúng ta hiểu những khái niệm trừu tượng và thực hiện tư duy trừu tượng.

Nhiều đối tượng kể từ những điều đơn giản nhất, đời thường nhất đến những lí thuyết khoa học thâm sâu nhất chỉ có thể hiểu được thông qua ẩn dụ.

Ẩn dụ về bản chất là mang tính ý niệm, chứ không mang tính ngôn ngữ.

Ngôn ngữ ẩn dụ là sự thể hiện lên bề mặt ẩn dụ ý niệm.

Mặc dù phần lớn hệ thống ý niệm của chúng ta mang tính ẩn dụ, song cách hiểu ẩn dụ dựa trên cơ sở cách hiểu phi ẩn dụ.

Ẩn dụ cho phép chúng ta hiểu đối tượng tương đối trừu tượng hoặc đối tượng phi cấu trúc hóa thông qua đối tượng cụ thể hơn hoặc ít ra thông qua đối tượng đã được cấu trúc hóa cao hơn.

Ẩn dụ ánh xạ qua các miền ý niệm: miền nguồn và miền đích.

Sự ánh xạ phi đối xứng và mang tính bộ phận. Ý niệm ẩn dụ không phản ánh và cũng không thể phản ánh được tất cả các bình diện của ý niệm xuất phát. Khi chúng ta nói rằng một ý niệm nào đó được xếp đặt làm ẩn dụ là có ý nói nó chỉ được xếp đặt một bộ phận thôi và có thể được sử dụng mở rộng bằng phương thức không phải võ đoán mà là hoàn toàn xác định.

Ánh xạ là một quá trình chuyển tập hợp những thông tin từ các thực thể ở miền nguồn sang các thực thể ở miền đích.

Ánh xạ ẩn dụ theo nguyên tắc một hướng: sơ đồ hình ảnh của miền nguồn được ánh xạ lên miền đích chứ không ngược lại.

Sự ánh xạ không võ đoán, mà có cơ sở trong cơ thể con người, trong kinh nghiệm thường nhật và trong tri thức.

Có hai loại ánh xạ: ánh xạ ý niệm và ánh xạ hình ảnh, cả hai đều phục tùng nguyên tắc bất biến.

Hệ thống ý niệm chứa đựng hàng nghìn lần ánh xạ ẩn dụ quy ước làm hình thành tiểu hệ thống cấu trúc hóa cao của hệ thống ý niệm.

Hệ thống ẩn dụ ý niệm quy ước chủ yếu là vô thức, tự động và được sử dụng dễ dàng, thoải mái, không đòi hỏi phải cố gắng nhiều.

Ẩn dụ ý niệm không dựa trên cơ sở so sánh tương đồng.

Ánh xạ ẩn dụ thay đổi theo mức độ phổ quát: một số có tính phổ quát, một số khác được phổ biến rộng rãi, một số nữa thì bị quy định bởi văn hóa.

Ẩn dụ thi ca phần lớn là sự mở rộng hệ thống quy ước thường nhật của tư duy ẩn dụ của chúng ta. Các ý niệm ẩn dụ có thể vượt ra khỏi phạm vi của phương thức tư duy thông thường để bước vào lĩnh vực tư duy và ngôn ngữ tu từ, thơ ca, mĩ tự pháp.

việc sử dụng rộng rãi trong khoa học tri nhận mô hình chế biến thông tin và trên cơ sở đó xây dựng những mô hình tri nhận các loại. Mô hình chế biến thông tin giả định rằng quá trình tri nhận có thể chia thành một loạt những giai đoạn giả thuyết, mỗi giai đoạn bao gồm một tập hợp những thao tác đặc biệt được thực hiện đối với những thông tin thu vào. Hệ thống tri nhận bảo đảm việc thực hiện tất cả những giai đoạn của quá trình tri nhận, nó chứa đựng một loạt những đơn vị giả thuyết – những tiểu hệ thống như hệ thống tri giác, chú ý, ghi nhớ, tư duy v.v. Những hệ thống này cũng có thể bao gồm những tiểu hệ thống tương ứng, chẳng hạn, hệ thống tri giác có thể chi phối công việc của một số tiểu hệ thống: phát hiện những tín hiệu cảm giác, nhận diện hình ảnh, chú ý và ghi nhớ. Còn những cấu trúc tri nhận thường liên hệ với những quá trình tri nhận nhất định bao gồm tập hợp những thao tác (hoặc chức năng) cho phép khai thác, phân tích, biến đổi và chế biến thông tin tri nhận (chẳng hạn, sự quên, tư duy, hình thành ý niệm v.v.).

 

Ứng dụng vào việc cấu tạo hệ thống tri nhận thuật ngữ “cấu trúc” chỉ mang tính ước lệ khi biểu hiện cách tổ chức của các yếu tố (chẳng hạn, việc chia bộ nhớ thành bộ nhớ tạm và bộ nhớ lâu dài, thực ra cách hiểu ẩn dụ như hai “vật chứa” thông tin).

 

Các cấu trúc tri nhận và các quá trình tri nhận tương ứng có liên quan với nhau: cái này là hệ quả của cái kia. Các quá trình tri nhận phần nào bị chi phối bởi các cấu trúc (chẳng hạn, các quá trình ghi nhớ được tiến hành nhờ bộ nhớ theo từng giai đoạn), còn một số cấu trúc tri nhận thì được cấu tạo trong quá trình chế biến thong tin tri nhận (“mệnh đề”, “sơ đồ” v.v.). Vì vậy các cấu trúc tri nhận và các quá trình tri nhận hợp nhất lại thành hệ thống tri nhận là rất hợp lí.

 

 

 

TÍNH HỆ THỐNG CỦA NHỮNG Ý NIỆM ẨN DỤ (systematicity of metaphorical concepts)

 

Xét ẩn dụ tri nhận ARGUMENT IS WAR/ TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH, ta thấy rằng cuộc tranh luận như thường lệ được xây dựng theo mẫu nhất định, nghĩa là trong cuộc tranh luận chúng ta thường làm một cái gì đó, mà cũng có thể không. Điều mà chúng ta một phần nào đó ý niệm hóa cuộc tranh luận trong những thuật ngữ của các hành động chiến tranh có ảnh hưởng một cách hệ thống đến cả hình thức của cuộc tranh luận, đến cả sự phản xạ của hành vi chúng ta trong tranh luận. Do chỗ ý niệm ẩn dụ được tổ chức một cách hệ thống, nên cả ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng khi chúng ta nói về nó cũng mang thuộc tính hệ thống.

 

Chúng ta đã thấy rằng trong ẩn dụ TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH, những biểu ngữ gồm từ vựng chiến tranh, chẳng hạn, attack a position ‘tấn công vị trí’; indefensible ‘không thể phòng ngự’; strategy ‘chiến lược’; new line of attack ‘hướng mới của cuộc tấn công’; win ‘chiến thắng’; gain ground ‘chiếm căn cứ bàn đạp’ v.v. tạo thành hệ thống miêu tả mặt chiến tranh của cuộc tranh luận. Không phải ngẫu nhiên rằng ngữ nghĩa vốn đặc trưng cho những biểu ngữ này được hiện thực hóa khi chúng ta nói về cuộc tranh luận. Một mảng nào đó của hệ thống ý niệm về các hành động chiến tranh được chuyển một phần sang ý niệm tranh luận, và ngôn ngữ cũng theo chân của ví dụ này. Do chỗ những biểu hiện ẩn dụ trong ngôn ngữ tương quan một cách có hệ thống với những ý niệm ẩn dụ, chúng ta có thể sử dụng những biểu thức ẩn dụ để nghiên cứu bản chất của những ý niệm ẩn dụ và để hiểu bản chất ẩn dụ của hoạt động của con người.

 

Để xác định bằng cách nào những biểu thức ẩn dụ của ngôn ngữ thường nhật có thể rọi ánh sáng vào bản chất ẩn dụ của các ý niệm cấu trúc hóa hoạt động thường nhật của chúng ta, hãy khảo sát ý niệm ẩn dụ TIME IS MONEY/THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC dưới dạng nó được biểu tượng trong tiếng Anh hiện đại.

 

TIME IS MONEY

 

THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC

 

 

 

You're wasting my time.

 

Bạn tiêu phí thì giờ của tôi.

 

 

 

This gadget will save you hours.

 

Cái máy này sẽ tiết kiệm cho bạn nhiều thời gian.

 

 

 

I don't have the time to give you.

 

Tôi không có thời gian dành cho bạn.

 

 

 

How do you spend your time these days?

 

(Trd.Bạn đã tiêu xài thời gian của bạn những ngày này như thế nào?)

 

Bạn đã dùng (sử dụng) thời gian của bạn những ngày này như thế nào?

 

 

 

That flat tire cost me an hour.

 

Cái lốp xe bẹp hơi này làm tốn của tôi một giờ đồng hồ.

 

 

 

I've invested a lot of time in her.

 

(Trd.Tôi đã đầu tư nhiều thời gian cho nàng).

 

Tôi đã tốn nhiều thời gian cho nàng.

 

 

 

1 don't have enough time to spare for that.

 

Tôi không có đủ thời gian để dành cho việc đó.

 

 

 

You're running out of time.

 

Bạn đã xài hết thời gian.

 

 

 

You need to budget your time.

 

Bạn cần lập quỹ thời gian của bạn.

 

 

 

Put aside aside some time for ping pong.

 

Hãy dành một ít thời gian để chơi ping pong.

 

 

 

Is that worth your while?

 

Việc đó có đáng giá thời gian của bạn không?

 

 

 

Do you have much time left?

 

Bạn có còn nhiều thời gian không?

 

 

 

He's living on borrowed time.

 

(Trd. Anh ta đang sống bằng thời gian vay mượn).

 

Anh ta đang sống nhờ.

 

 

 

You don't use your time profitably.

 

Bạn không sử dụng thời gian của mình cho có lợi (trd. cho có lời).

 

 

 

I lost a lot of time when I got sick.

 

Tôi đã đánh mất nhiều thời gian khi tôi ốm.

 

 

 

Thank you for your time.

 

Cám ơn về thời gian của bạn (đã dành cho tôi).

 

 

 

Thời gian trong nền văn hóa của chúng ta là giá trị (Time in our culture is a valuable commodity). Đó là nguồn tài nguyên hữu hạn mà chúng ta dùng để đạt được những mục đích của mình. Do chỗ trong nền văn hóa phương Tây hiện đại, ý niệm công việc thường được liên tưởng đến khoảng thời gian bị mất đi cho nó, mà thời gian thì có thể được xác định một cách chính xác về số lượng, việc trả công cho lao động như thường lệ được tính theo giờ, tuần hoặc năm. Trong nền văn hóa Phương Đông (Việt Nam), ẩn dụ TIME IS MONEY/THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC hoạt động dưới nhiều bộ mặt: với tư cách là đơn vị thanh toán các cuộc điện thoại, tiền công tính theo giờ, trả tiền phòng ở khách sạn, ngân sách hàng năm, tỉ giá vay tín dụng, thực hiện những giao kèo xã hội v.v., tất cả những vụ việc đó được tính bằng số thời gian mất đi cho chúng. Thực tế này tương đối mới trong lịch sử nhân loại và tồn tại không phải trong tất cả các nền văn hóa. Nó xuất hiện trong xã hội công nghiệp hiện đại, và ở mức độ đáng kể nó cấu trúc hóa hoạt động thường nhật của con người. Do chỗ trong hoạt động của mình, chúng ta xuất phát từ quan niệm về thời gian như là về giá trị được đem so sánh với nguồn tài nguyên hữu hạn, thậm chí với tiền bạc, nên chúng ta tri giác thời gian theo cách đó. Chúng ta hiểu và cảm nhận thời gian như là một bản thể (the kind of thing) có thể đánh mất một cách vô ích hoặc hữu ích, có thể đầu tư một cách thông minh hoặc vô bổ, như một bản thể có thể cất giữ hoặc tiêu phí.

 

TIME IS MONEY/THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC, TIME IS A LIMITED RESOURCE/THỜI GIAN LÀ NGUỒN CỦA CẢI CÓ HẠN, và TIME IS A VALUABLE COMMODITY/THỜI GIAN LÀ GIÁ TRỊ - tất cả đều là những ý niệm ẩn dụ. Chúng mang tính ẩn dụ bởi vì chúng ta sử dụng những kiến thức thực tế của mình về tiền bạc, về sự hạn chế của những nguồn tài nguyên và giá trị để ý niệm hóa thời gian. Đó không phải là phương thức duy nhất để con người có thể ý niệm hóa thời gian; nó gắn với nền văn hóa của chúng ta. Có những nền văn hóa trong đó thời gian không ý niệm hóa bằng một trong những phương thức đó.

 

Các ẩn dụ ý niệm TIME IS MONEY/THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC, TIME IS A LIMITED RESOURCE/THỜI GIAN LÀ NGUỒN CỦA CẢI CÓ HẠN và TIME IS A VALUABLE COMMODITY/THỜI GIAN LÀ GIÁ TRỊ tạo thành một hệ thống đặc biệt dựa trên cơ sở tiểu phạm trù hóa (sub-categorization) bởi vì trong xã hội chúng ta, tiền bạc là nguồn tài nguyên hữu hạn, mà nguồn tài nguyên hữu hạn là giá trị. Những mối quan hệ tiểu phạm trù này mang đặc trưng quan hệ suy ra giữa các ẩn dụ (These sub-categorization relationships characterize entailment relationships between the metaphors): từ ẩn dụ TIME IS MONEY/ THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC suy ra ẩn dụ TIME IS A LIMITED RESOURCE/ THỜI GIAN LÀ NGUỒN CỦA CẢI CÓ HẠN, rồi từ ẩn dụ này lại suy ra ẩn dụ TIME IS A VALUABLE COMMODITY/THỜI GIAN LÀ GIÁ TRỊ.

 

Chúng ta sử dụng một ẩn dụ ý niệm đặc trưng nhất, trong trường hợp này là TIME IS MONEY/ THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC, để định tính chất của toàn hệ thống ý niệm. Từ trong những ví dụ có liên quan đến ẩn dụ TIME IS MONEY/ THỜI GIAN LÀ TIỀN BẠC có một số có liên hệ trực tiếp đến tiền bạc (spend ‘tiêu tốn’, invest ‘đầu tư’, budget ‘ngân sách’, probably ‘có lời’, cost ‘giá’), một số khác liên quan đến nguồn tài nguyên hữu hạn (use ‘sử dụng’, use up ‘tiêu phí’, have enough of ‘có đủ’, run out of ‘hết, cạn’), một số khác nữa thì liên quan đến giá trị (have ‘có’, give ‘cho’, lose ‘mất’, thank you for ‘cám ơn ông vì…’). Đây là ví dụ chứng minh rằng sự suy kết ẩn dụ (metaphorical entailments) có thể định tính một hệ thống nhất quán những ẩn dụ ý niệm và một hệ thống nhất quán những biểu ngữ ẩn dụ tương ứng với nó.

 

 

 

 

 

TƯƠNG HÒA VĂN HÓA (cultural coherence)

 

Do chỗ ẩn dụ ý niệm được phản ánh qua lăng kính ngôn ngữ và văn hóa dân tộc, nên cấu trúc ẩn dụ của những ý niệm cơ bản phải tương hòa với những giá trị văn hóa nền tảng nhất. Tương hòa nghĩa là phù hợp. Tương hòa văn hóa hàm chỉ sự phù hợp với cách nghĩ, với những quan niệm về thế giới, với phong tục tập quán, với những hoạt động tinh thần của những con người hợp thành một cộng đồng văn hóa nào đó.

 

Để làm ví dụ, chúng ta hãy xét một số trường hợp về các giá trị văn hóa của xã hội Anh-Mĩ tương hòa với những ẩn dụ không gian kiểu UP-DOWN/TRÊN-DƯỚI, và những trường hợp không tương hòa với những giá trị đó. Theo Lakoff và Johnson, quan niệm:

 

“More is better” (Nhiều hơn là tốt hơn) tương hòa với những ẩn dụ:

 

MORE IS UP/NHIỀU HƠN ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN và

 

GOOD IS UP/CÁI TỐT ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

 

Còn “Less is better” (Ít hơn là tốt hơn) không tương hòa với chúng.

 

 

 

“Bigger is better” (Cái lớn hơn là tốt hơn) tương hòa với những ẩn dụ:

 

MORE IS UP/LỚN HƠN ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN và

 

GOOD IS UP/CÁI TỐT ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN

 

Còn “Smaller is better” (Cái nhỏ hơn là tốt hơn) không tương hòa với chúng.

 

 

 

“The future will be better” (Tương lai sẽ tốt hơn) tương hòa với những ẩn dụ:

 

THE FUTURE IS UP/TƯƠNG LAI ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN và

 

GOOD IS UP/CÁI TỐT ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN.

 

Còn “The future will be worse” (Tương lai sẽ xấu hơn) không tương hòa với chúng.

 

 

 

“There will be more in the future” (Trong tương lai sẽ nhiều hơn) tương hòa với những ẩn dụ

 

MORE IS UP/NHIỀU HƠN ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN và

 

THE FUTURE IS UP/TƯƠNG LAI ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN.

 

 

 

“Your status should be higher in the future” (Trong tương lai địa vị của bạn sẽ lên cao) tương hòa với những ẩn dụ:

 

HIGH STATUS IS UP/ĐỊA VỊ CAO LÀ TRÊN và

 

THE FUTURE IS UP/TƯƠNG LAI ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN.

 

 

 

Những giá trị này ăn sâu gốc rễ trong nền văn hóa Anh-Mĩ. Câu “The future will be better” (Tương lai sẽ tốt hơn) là tư tưởng cơ sở của sự tiến bộ. Những trường hợp riêng khẳng định “trong tương lai sẽ nhiều hơn” – đó là sự tích lũy hàng hóa và tăng lương. Câu “Trong tương lai địa vị của bạn sẽ tăng cao” là khẩu hiệu của công danh. Những suy nghĩ này về các giá trị tương hòa với những ẩn dụ không gian của Anh-Mĩ, còn những suy nghĩ ngược lại với chúng thì không. Tóm lại, có vẻ như những giá trị của chúng ta không độc lập (not independent); chúng cùng với những ẩn dụ ý niệm mà chúng ta đang sống cần phải hình thành một hệ thống tương hòa (a coherent system), không mâu thuẫn. Chúng ta không khẳng định rằng tất cả những giá trị văn hóa liên quan đến hệ thống ẩn dụ thực sự tồn tại, chúng ta chỉ cho rằng những giá trị nào tồn tại và ăn sâu gốc rễ vào văn hóa thì tương hòa với hệ thống ẩn dụ.

 

Những giá trị đã dẫn ở trên nói chung là có giá trị đối với nền văn hóa chúng ta với những điều kiện bằng nhau. Nhưng do chỗ thường vẫn có những điều kiện không bằng nhau (not equal), nên giữa các giá trị thường xảy ra những cuộc đụng độ (conflicts), và do đó những ẩn dụ liên quan đến chúng cũng thế. Để giải thích những cuộc đụng độ này giữa các giá trị (và giữa những ẩn dụ liên quan đến chúng), cần thiết phải xác định những ưu tiên khác nhau của các giá trị và các ẩn dụ trong những nền văn hóa sử dụng chúng. Ví dụ, ẩn dụ MORE IS UP/NHIỀU HƠN ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN bao giờ cũng được ưu tiên bởi vì nó có cơ sở vật lí rõ ràng nhất. Sự ưu tiên của ẩn dụ MORE IS UP/NHIỀU HƠN ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN đối với ẩn dụ GOOD IS UP/CÁI TỐT ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN có thể nhận thấy trên các ví dụ như Inflation is rising ‘lạm phát tăng’ và The crime rate is going up ‘Tội phạm tăng’. Rõ ràng rằng lạm phát và tội phạm là xấu, nhưng những câu vừa dẫn có cái nghĩa vốn có của chúng do chỗ ẩn dụ MORE IS UP/NHIỀU HƠN ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN là ưu tiên hơn.

 

Nói chung sự ưu tiên của các giá trị một phần được quy định bởi nền tiểu văn hóa (subculture) trong đó con người sinh sống, một phần là do sự ưa thích của cá nhân. Các nền tiểu văn hóa của nền văn hóa toàn xã hội nói chung (mainstream culture) vốn có cùng những giá trị cơ sở, song mỗi nền tiểu văn hóa lại đề ra cho chúng những giá trị khác nhau. Ví dụ, quan niệm BIGGER IS BETTER/CÁI LỚN HƠN LÀ TỐT HƠN có thể đụng độ với quan niệm THERE WILL BE MORE IN THE FUTURE trong tình huống khi buộc phải lựa chọn giữa việc mua vào thời điểm đó một chiếc xe to với số tiền sẽ nuốt hết lương trong tương lai và việc mua một chiếc xe nhỏ hơn nhưng rẻ hơn. Ở Mĩ có những nền tiểu văn hóa, ở đó người ta mua chiếc xe to và không ai lo nghĩ đến tương lai, và cũng có những nền tiểu văn hóa, ở đó tương lai là rất quan trọng, do đó người ta sẽ mua chiếc xe nhỏ. Có một thời (trước lạm phát và khủng hoảng năng lượng) khi có một chiếc xe nhỏ có nghĩa là có một địa vị cao hơn trong nền tiểu văn hóa, ở đó những quan niệm VIRTUE IS UP/ĐỨC HẠNH ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN và SAVING RESOURCES IS VIRTUOUS/GIỮ GÌN NGUỒN LỰC LÀ ĐỨC HẠNH được ưu tiên hơn so với BIGGER IS BETTER/CÁI LỚN HƠN LÀ TỐT HƠN. Bây giờ số lượng những người sở hữu xe nhỏ tăng lên đột ngột, bởi vì xuất hiện một nền tiểu văn hóa, ở đó tư tưởng SAVING MONEY IS BETTER/TIẾT KIỆM TIỀN LÀ TỐT HƠN là quan trọng hơn so với BIGGER IS BETTER/CÁI LỚN HƠN LÀ TỐT HƠN.

 

Ngoài những nền tiểu văn hóa, trong xã hội còn có những nhóm xã hội, trong đó yếu tố quyết định là tuân theo một số giá trị quan trọng có khả năng đụng độ với nền đại văn hóa (mainstream culture). Họ giữ những giá trị khác – điều này chưa rõ lắm. Để làm ví dụ, chúng ta khảo sát dòng tu chiêm niệm. Trong cộng đồng này, những quan niệm LESS IS BETTER/ÍT HƠN LÀ TỐT HƠN và SMALLER IS BETTER/NHỎ HƠN LÀ TỐT HƠN là đúng đối với những quyền lợi vật chất vốn được xem như cái trở ngại cho một cái gì đó có giá trị hơn, cụ thể là cho sự thờ phụng Thượng đế. Các tu sĩ dòng chiêm niệm chia sẻ phạm trù giá trị của nền đại văn hóa VIRTUE IS UP/ĐỨC HẠNH ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN, cho nó một giá trị ưu tiên cao nhất và xác định nó một cách đặc biệt. Nguyên tắc MORE IS BETTER/NHIỀU HƠN LÀ TỐT HƠN vẫn tiếp tục hoạt động, nhưng chỉ được áp dụng cho đức hạnh. Quan niệm giá trị ĐỊA VỊ XÃ HỘI CAO ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN vẫn còn hiệu lực, mặc dù nó không dành cho thế giới này, mà cho thế giới cao siêu, cho Cõi Thượng đế. Hơn nữa câu TƯƠNG LAI SẼ TỐT HƠN là đúng trong phạm vi phát triển tinh thần (spiritual growth) (UP/TRÊN) và cuối cùng là phạm vi cứu rỗi linh hồn (really UP/TRÊN đích thực). Điều này điển hình cho những nhóm xã hội nằm ngoài nền đại văn hóa. Đức hạnh, cái thiện và địa vị có thể được hiểu hoàn toàn khác nhau, nhưng chúng vẫn còn lại trong vị trí UP/TRÊN. Dù sao vẫn là tốt hơn nếu có được nhiều hơn cái mà cho là quan trọng; nguyên tắc TƯƠNG LAI SẼ TỐT HƠN vẫn tiếp tục hoạt động đối với cái cho là quan trọng v.v. Theo quan điểm cái cho là quan trọng đối với tu sĩ dòng chiêm niệm, thì hệ thống giá trị vẫn còn là tương hòa nội tại và tương quan với những ẩn dụ định hướng cơ sở của nền đại văn hóa.

 

Ở một số cá thể cũng như ở một số nhóm, tính ưu tiên được quy định bởi định hướng “trên-dưới” như nền văn hóa của chúng ta vốn có. Trong một số nền văn hóa, các phạm trù “cân đối” và “trung tâm” đóng vai trò quan trọng hơn rất nhiều. Hoặc thử lấy định hướng phi không gian “tích cực-tiêu cực”. Nói chung đối với chúng ta ý niệm ACTIVE IS UP/CÁI TÍCH CỰC ĐỊNH HƯỚNG LÊN TRÊN và PASSIVE IS DOWN/CÁI TIÊU CỰC ĐỊNH HƯỚNG XUỐNG DƯỚI hoàn toàn có thể hiểu được. Nhưng có những nền văn hóa, trong đó tính tiêu cực lại được đánh giá cao hơn tính tích cực. Nói chung những phạm trù định hướng cơ sở “trên-dưới”, “trong-ngoài”, “trung tâm-ngoại vi”, “tích cực-tiêu cực” v.v. rõ ràng là có trong tất cả các nền văn hóa. Nhưng cái điều mà các ý niệm định hướng như thế nào và những định hướng nào quan trọng hơn thì khác nhau trong những nền văn hóa khác nhau.

 

 

 

HOÁN DỤ (metonymy)

 

G. Lakoff và M. Johnson trong khi khảo sát những trường hợp nhân hóa đã chỉ ra rằng chúng ta gán những thuộc tính của con người cho cái không phải là con người – những lí thuyết, bệnh tật, lạm phát v.v. Trong những ngôn cảnh như thế, thuộc tính tương ứng không thể gán cho một bản thể người cụ thể nào. Khi chúng ta nói: “Lạm phát đã ăn cắp tiền tiết kiệm của tôi”, chúng ta không đặt sự tương ứng giữa lạm phát với một con người cụ thể nào. Cần phải phân biệt những trường hợp này với những ví dụ kiểu:

 

 

 

The ham sandwich is waiting for his check.

 

Trd. Bánh mì kẹp thịt đang chờ tic-kê của mình.

 

 

 

Trong ví dụ này, biểu thức ham sandwich (bánh mì kẹp thịt) được dùng để chỉ một người có thật đã đặt mua bánh mì kẹp thịt. Những trường hợp này không thể liệt cho những ví dụ nói về ẩn dụ danh hóa, bởi vì khi hiểu biểu thức ham sandwich, thì thuộc tính của con người không chuyển sang nó. Thay cho việc đó chúng ta sử dụng một bản thể này để chỉ một bản thể khác có mối liên hệ đến nó. Đó là ví dụ về cái mà chúng ta sẽ gọi là hoán dụ (metonymy).

 

Thêm vài ngôn cảnh:

 

 

 

He like to read the Marquis de Sade (= the writtings of the marquis).

 

Nó thích đọc Marquis de Sade (= những tác phẩm của bà hầu tước).

 

 

 

He’s in dance (= the dancing profession).

 

Trd. Nó ở trong việc nhảy múa (= làm nghề nhảy, vũ công).

 

 

 

Acrylic has taken over the art world (= the use of acrylic paint).

 

Acrylic đã chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật (= việc dùng nguyên liệu acrylic).

 

 

 

The Times hasn’t arrived at the press conference yet (= the reporter from the Times).

 

Báo Times vẫn chưa xuất hiện trong cuộc họp báo (= phóng viên báo Times).

 

 

 

Mrs. Grundy frowns on blue jeans (= the wearing of blue jeans).

 

Bà Grundy không hài lòng với quần jeans xanh (= với việc mặc quần Jeans xanh).

 

 

 

New windshield wipers will satisfy him (= the state of having new wipers).

 

Bộ thanh gạt nước mới sẽ làm ông ta hài lòng (= tình trạng có bộ thanh gạt nước mới).

 

 

 

Chúng ta xem xét một trường hợp hoán dụ đặc biệt mà trong khoa hùng biện cổ điển gọi là cải dung (synecdoche), khi một bộ phận thay cho toàn thể, như trong những trường hợp sau đây.

 

THE PART FOR THE WHOLE

 

BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ

 

 

 

The automobile is clogging our highways (= the collection of automobiles).

 

Xe hơi chất đầy đường chúng ta (= đoàn xe hơi).

 

 

 

We need a couple of strong bodies for our team (= strong people).

 

Trd. Chúng ta cần một cặp cơ thể mạnh cho đội chúng ta (= người khỏe mạnh).

 

 

 

There are a lot of good heads in the university (= intelligent people).

 

Có nhiều cái đầu tốt trong trường đại học (= người thông minh).

 

 

 

I’ve got a new set of wheels (= car, motorcycle, etc).

 

Tôi có những cái bánh xe mới (= xe hơi, mô tô v.v.).

 

We need some new blood in the organization (= new people).

 

Chúng ta cần máu mới cho tổ chức chúng ta (những người mới).

 

 

 

Trong những ví dụ này, cũng như trong những trường hợp khác của hoán dụ, một bản thể được sử dụng để chỉ một bản thể khác. Ẩn dụ và hoán dụ là những dạng khác nhau của các quá trình (different kind of processes). Ẩn dụ trước hết là phương thức nhận thức một sự vật này trong thuật ngữ của sự vật khác, và do đó chức năng cơ bản của nó là bảo đảm cho sự thông hiểu. Mặt khác, hoán dụ có chức năng cơ bản là chức năng quy chiếu (referential function), nghĩa là nó cho phép một bản thể này thay thế cho bản thể khác. Nhưng hoán dụ không chỉ là một biện pháp quy chiếu. Nó cũng phục vụ cho sự thông hiểu. Ví dụ, hoán dụ THE PART FOR THE WHOLE/BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ tiền giả định sự tồn tại nhiều phần có khả năng thay thế cái toàn thể. Việc lựa chọn một bộ phận nào đó quyết định sự chú ý tập trung ở phần nào của cái toàn thể. Khi chúng ta nói rằng đối với dự án cần có những cái đầu sáng sủa (good head), thì chúng ta dùng những cái đầu sáng sủa để biểu hiện “những người thông minh”. Điều cơ bản không phải là chuyện chúng ta dùng một bộ phận (cái đầu) để biểu hiện cái toàn thể (con người), mà là chuyện chúng ta chọn một đặc điểm riêng lẻ của con người, cụ thể là sự thông minh có mối liên tưởng với cái đầu. Điều vừa nói trên có quan hệ với cả những dạng khác của hoán dụ. Khi chúng ta nói “The Times hasn’t arrived at the press conference yet” (trd., Báo Times chưa xuất hiện ở cuộc họp báo), chúng ta dùng biểu thức The Times không những để biểu hiện nhà báo này hay nhà báo khác, mà còn chỉ rõ tầm quan trọng của cơ quan mà nhà báo đó đại diện. Do vậy câu “The Times hasn’t arrived at the press conference yet” không có cùng nghĩa với câu Steve Roberts has not yet arrived for press conference yet (Steve Roberts chưa xuất hiện ở cuộc họp báo) thậm chí nếu Steve Roberts chính là phóng viên của tờ báo Times.

 

Tóm lại, hoán dụ ở mức độ nào đó cùng phục vụ cho những mục đích như ẩn dụ, và được sử dụng theo kiểu giống nhau, nhưng hoán dụ cho phép tập trung chú ý chính xác hơn trên những mặt xác định của cái được biểu hiện. Hoán dụ cũng như ẩn dụ không đơn thuần là một thủ thuật thi ca hoặc hùng biện. Cũng như ẩn dụ, hoán dụ không chỉ thuộc về ngôn ngữ. Những ý niệm hoán dụ (như THE PART FOR THE WHOLE/BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ) là một bộ phận cấu thành của tư duy đời thường, của những phương thức lời nói và hành vi.

 

Vậy là, trong hệ thống ý niệm của chúng ta có một trường hợp đặc biệt của hoán dụ BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ: THE FACE FOR THE PERSON/CÁI MẶT THAY CHO CON NGƯỜI. Ví dụ:

 

 

 

She’s just a pretty face.

 

Trd. Nàng chỉ là một cái mặt dễ thương.

 

 

 

There are an awful lot of faces out there in the audience.

 

Trd. Có một số lượng lớn những cái mặt trong hội trường.

 

 

 

We need some new faces around here.

 

Trd. Chúng ta cần những cái mặt mới xung quanh đây.

 

 

 

Kiểu hoán dụ như thế rất phổ biến trong nền văn hóa của chúng ta. Nó đã trở thành cơ sở của truyền thống nghệ thuật chân dung trong hội họa và nhiếp ảnh. Nếu bạn yêu cầu tôi giới thiệu hình ảnh con trai tôi, thì tôi sẽ chỉ ra hình ảnh khuôn mặt của nó, và bạn sẽ hài lòng. Bạn sẽ cho rằng bạn đã được nhìn thấy hình ảnh của nó một cách trọn vẹn. Nhưng nếu tôi cho bạn xem thân hình của nó mà không có khuôn mặt, bạn sẽ cho việc đó là lạ lùng và sẽ không hài lòng. Có lẽ bạn sẽ hỏi: “Nhưng trông nó thế nào?”. Do đó hoán dụ THE FACE FOR THE PERSON/CÁI MẶT THAY CHO CON NGƯỜI không đơn thuần là thuộc về ngôn ngữ. Trong nền văn hóa của chúng ta, để có được một quan niệm con người trông như thế nào, thì chúng ta nhìn trước hết đến khuôn mặt của nó hơn là nhìn dáng đi dáng đứng của nó. Khi chúng ta nhận biết về con người theo khuôn mặt của nó và ra quyết định trên cơ sở đó, vậy là chúng ta hành động theo nguyên tắc hoán dụ.

 

Cũng như ẩn dụ, hoán dụ không thể xem xét như tổng hòa những ngôn cảnh sử dụng ngẫu nhiên và võ đoán. Các ý niệm hoán dụ cũng được tổ chức một cách hệ thống. Tính hệ thống của chúng có thể được minh họa bằng những ví dụ mang tính biểu trưng cho nền văn hóa của chúng ta

 

 

 

THE PART FOR THE WHOLE

 

BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ 

 

 

 

Get your butt over here!

 

Kéo cái mông của cậu đến đây.

 

 

 

We don’t hire longhairs.

 

Trd. Chúng tôi không thuê những tóc dài.

 

 

 

The giants need a stronger arm in right field.

 

Những người khổng lồ cần cánh tay mạnh trong lĩnh vực cần thiết.

 

 

 

PRODUCER FOR PRODUCT

 

NGƯỜI SẢN XUẤT THAY CHO SẢN PHẨM

 

 

 

I'll have a Lowenbrau.

 

Tôi sẽ có Lowenbrau[13].

 

 

 

He bought a Ford.

 

Nó mua Ford.

 

 

 

He's got a Picasso in his den.

 

Nó có Picasso ở nhà nó.

 

 

 

I hate to read Heidegger.

 

Tôi ghét đọc Heidegger.

 

 

 

OBJECT USED FOR USER

 

KHÁCH THỂ ĐƯỢC SỬ DỤNG THAY NGƯỜI SỬ DỤNG

 

 

 

The sax has the flu today.

 

Cây xacxophon bị cảm lạnh hôm nay.

 

 

 

The BLT is a lousy tipper.

 

Bánh mì BLT[14] là một kẻ hà tiện.

 

 

 

The gun he hired wanted fifty grand.

 

(Trd.) Khẩu súng nó thuê muốn năm mươi đồng.

 

 

 

We need a better glove at third base.

 

Chúng tôi cần chiếc găng tay tốt hơn ở cơ sở ba.

 

 

 

The buses are on strike.

 

Đám xe buýt bãi công.

 

 

 

CONTROLLER FOR CONTROLLED

 

NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN THAY CHO CÁI BỊ ĐIỀU KHIỂN

 

 

 

Nixon bombed Hanoi.

 

Nixon đánh bom Hà Nội.

 

 

 

Ozawa gave a terrible concert last night.

 

Ozawa đã cho một buổi hòa nhạc kinh khủng đêm hôm qua.

 

 

 

Napoleon lost at Waterloo.

 

Napoleon đã thua ở Waterloo.

 

 

 

Casey Stengel won a lot of pennants.

 

Casey Stengel đã thắng nhiều giải.

 

 

 

A Mercedes rear-ended me.

 

Chiếc Mercedes tông vào đằng sau tôi.

 

 

 

INSTITUTION FOR PEOPLE RESPONSIBLE

 

CƠ QUAN THAY CHO NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM

 

 

 

Exxon has raised its prices again.

 

Exxon lại nâng giá.

 

 

 

You'll never get the university to agree to that.

 

Bạn sẽ không bao giờ có thể làm cho trường đại học đồng ý với chuyện đó.

 

 

 

The Army wants to reinstitute the draft.

 

Quân đội muốn khôi phục chế độ quân dịch.

 

 

 

The Senate thinks abortion is immoral.

 

Thượng viện cho việc nạo thai là vô đạo đức.

 

 

 

I don't approve of the government's actions.  ,

 

Tôi không tán thành hoạt động của chính phủ.

 

 

 

THE PLACE FOR THE INSTITUTION

 

ĐỊA ĐIỂM THAY CHO CƠ QUAN

 

 

 

The White House isn't saying anything.

 

Nhà Trắng không nói gì về chuyện đó.

 

 

 

Washington is insensitive to the needs of the people.

 

Washington không đoái hoài gì đến những nhu cầu của nhân dân.

 

 

 

The Kremlin threatened to boycott the next round of SALT talks.

 

Kremlin đe dọa tẩy chay vòng đàm phán tiếp theo của hiệp ước SALT[15].

 

 

 

Paris is introducing longer skirts this season.

 

Paris đề nghị những chiếc váy dài hơn trong mùa này.

 

 

 

Hollywood isn't what it used to be.

 

Hollywood không còn như trước kia.

 

 

 

Wall Street is in a panic.

 

Phố Wall đang hoang mang.

 

 

 

THE PLACE FOR THE EVENT

 

ĐỊA ĐIỂM THAY CHO SỰ KIỆN

 

 

 

Let's not let Thailand become another Vietnam.

 

Không để cho Thái Lan trở thành một Việt Nam khác.

 

 

 

Remember the Alamo.

 

Hãy nhớ lấy Alamo.

 

 

 

Pearl Harbor still has an effect on our foreign policy.

 

Pearl Harbor vẫn còn có ảnh hưởng đến chính sách đối ngoại của chúng ta.

 

 

 

Watergate changed our politics.

 

Watergate làm thay đổi nền chính trị của chúng ta.

 

It's been Grand Central Station here all day.

 

Đã có một Grand Central Station ở đây suốt ngày.

 

 

 

Những ý niệm hoán dụ vừa được xem xét cũng mang tính hệ thống như ẩn dụ. Những ví dụ về hoán dụ đó không phải là ngẫu nhiên. Chúng biểu hiện một số phạm trù hoán dụ chung, trong thuật ngữ của chúng, chúng ta cấu trúc hóa tư duy và hoạt động của chúng ta. Ý niệm ẩn dụ tạo khả năng hiểu được một bản thể nào đó trong khuôn khổ các mối liên hệ của nó với những bản thể khác. Khi chúng ta suy nghĩ về Picasso, chúng ta không đơn thuần nghĩ về một tác phẩm nghệ thuật riêng lẻ nào trong nó và cho nó. Chúng ta suy nghĩ về tác phẩm trong mối liên hệ với bản thân họa sĩ, nghĩa là trong mối liên hệ với quan điểm nghệ thuật của ông, với kĩ thuật, với vai trò của ông trong lịch sử nghệ thuật v.v. Chúng ta có thái độ trân trọng sâu sắc đối với Picasso, và điều đó tỏa rộng ra cả với bản phác họa thời thơ ấu của ông, và từ liên hệ của phác họa đó với họa sĩ. Cũng theo những nguyên tắc đó hoán dụ NGƯỜI SẢN XUẤT THAY CHO SẢN PHẨM ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành động của chúng ta. Tương tự như vậy, khi cô hầu bàn nói The lam sandwich want his check (trd. chiếc bánh mì kẹp thịt muốn cái tic-kê của mình). Đối với cô ta điều quan trọng không phải là con người bình thường, mà là một khách hàng, vì vậy việc sử dụng câu này có thể gọi là phi nhân hóa (dehumanizing). Bản thân Nixon rõ ràng là không ném bom xuống Hà Nội, nhưng nhờ có hoán dụ NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN THAY CHO CÁI BỊ ĐIỀU KHIỂN mà chúng ta không những nói Nixon bombed Hanoi ‘Nixon đánh bom Hà Nội’, mà còn nghĩ giá như bản thân ông ta làm việc đó thì ông ta sẽ làm như thế nào, và chúng ta cho rằng ông ta phải chịu trách nhiệm cho việc đó. Cũng chính vì điều đó là có thể do mối quan hệ hoán dụ NGƯỜI ĐIỀU KHIỂN THAY CHO CÁI BỊ ĐIỀU KHIỂN tập trung sự chú ý của chúng ta vào trách nhiệm đối với hành động.

 

Tóm lại, những ý niệm hoán dụ, cũng như ẩn dụ, cấu trúc hóa không chỉ ngôn ngữ, mà còn cả tư duy, mục tiêu và hành động của chúng ta. Cũng như những ý niệm ẩn dụ, các quan hệ hoán dụ ăn sâu vào kinh nghiệm của chúng ta. Thực vậy, những cơ sở của ý niệm hoán dụ rõ ràng hơn là ẩn dụ, bởi vì hoán dụ thường chứa đựng những chỉ dẫn rõ ràng những mối liên tưởng vật lí hoặc nguyên nhân. Ví dụ, hoán dụ BỘ PHẬN THAY CHO TOÀN THỂ nảy sinh từ trong hiểu biết của chúng ta nhận được bằng con đường kinh nghiệm. Chúng ta biết bằng cách nào một bộ phận có thể liên hệ được với cái toàn thể. Hoán dụ NGƯỜI SẢN XUẤT THAY CHO SẢN PHẨM đặt trên cơ sở mối liên hệ nguyên nhân (thường là vật lí) giữa người sản xuất và sản phẩm của nó. Hoán dụ ĐỊA ĐIỂM THAY CHO SỰ KIỆN được giải thích bởi kinh nghiệm của chúng ta chỉ ra mối liên hệ giữa sự kiện và địa điểm nơi nó xảy ra. Và vân vân.

 

Những biểu tượng văn hóa và tôn giáo là những trường hợp hoán dụ đặc biệt. Chẳng hạn, trong Cơ đốc giáo, có hoán dụ DOVE FOR HOLY SPIRIT/CHIM BỒ CÂU THAY CHO CHÚA THÁNH THẦN. Biểu tượng cũng như hoán dụ không võ đoán. Nó đặt cơ sở trên sự thông hiểu chim bồ câu trong nền văn hóa phương Tây và quan điểm về Chúa Thánh Thần trong thần học Cơ đốc giáo. Có nguyên nhân cho rằng chính chim bồ câu đã trở thành biểu tượng của Chúa Thánh Thần, chứ không phải gà con, diều hâu hay đà điểu. Chim bồ câu được tri giác như một tạo thể đẹp, hiền lành, dịu dàng, và trước hết là hòa bình. Như bất cứ loài chim nào, môi trường sinh sống của chim bồ câu là bầu trời. Về mặt hoán dụ, bầu trời thay cho những khung trời, là nơi cư trú điển hình của Chúa Thánh Thần. Chim bồ câu là loài chim bay rất đẹp, lặng lẽ bay lượn trong không trung, có thể nhìn thấy nó cả trong những khung trời và cả giữa loài người.

 

Những hệ thống ý niệm của các nền văn hóa và của các tôn giáo về bản chất là mang tính ẩn dụ. Hoán dụ trong phạm vi của biểu tượng là mối liên hệ tất yếu giữa kinh nghiệm thường nhật và những hệ thống ẩn dụ tương hòa nội tại nằm trong cơ sở của văn hóa và tôn giáo. Hoán dụ của những hệ thống biểu tượng được giải thích bởi kinh nghiệm thực tiễn của chúng ta là cái chìa khóa cho sự thông hiểu những ý niệm tôn giáo và văn hóa.

 

 

 

married affairs open click here
married affairs open click here
website wives who cheat married cheaters
my wife cheated now what go why do married men cheat on their wives
my boyfriend cheated on me with my mom why do women cheat on their husbands what makes husbands cheat
my boyfriend cheated on me quotes read here open
my boyfriend cheated on me quotes married cheaters open
reasons married men cheat why are women unfaithful open
husband cheated on me what to do when husband cheats married affairs sites
what to do when husband cheats click wives who cheat on husbands
read here women want men go
wife cheat story wifes cheat why women cheat in relationships
women who cheat on husband developerstalk.com women who cheat on husbands
reasons why wives cheat on their husbands wife cheat how to cheat on husband
marriage affairs married men who cheat cheater
reasons why women cheat on their husbands women that cheat on their husbands why women cheat in relationships
why women cheat in relationships why husband cheat on their wife why do husbands have affairs
why women cheat in relationships wife cheaters why do husbands have affairs
why women cheat in relationships why husband cheat on their wife why do husbands have affairs
women that cheat with married men yodotnet.com why wifes cheat
why women cheat on men cheaters caught married men cheat with men
kr vijaya sex stories go sex education story
women will cheat site My wife cheated on me
reasons why women cheat on their husbands all women cheat married men cheat with men
dating a married woman site looking for affair
put in plastic panties stories adult solveit.openjive.com stories of train sex
put in plastic panties stories adult click stories of train sex
why men cheat on beautiful women will my husband cheat again cheat on husband
will my wife cheat again affair dating sites why do wife cheat
forced gay sex stories tolobel.com teen sex stories
infidelity signs tfswhisperer.com percent of women that cheat
women cheat on men read women will cheat
teen sex stories the simpsons adult stories gay sex stories gay erotic stories stories male fiction novels erotica
sex with mom stories astrobix.com preteens having sex stories
women cheat because go meet to cheat
women cheat because women that cheat on their husbands meet to cheat
pharmacy discount card printable coupons free coupon rx
free prescription drug discount card cincymemories.com online pharmacy coupons
discount card pharmacy walgreens photos coupon code promo codes for walgreens
walgreens photo coupons online walgreens store medication coupon
coupons rx open printable free coupons
coupons rx open printable free coupons
wives who cheat find an affair why wifes cheat
husband cheated fangstoptimering.dk women cheat because
husband cheated fangstoptimering.dk women cheat because
abortion clinics in cincinnati how much is it for an abortion indiana abortion clinics
tracking apps android spy mobile app free text spy app for android
why abortion is wrong prostudiousa.com when to have abortion
why abortion is wrong prostudiousa.com when to have abortion
why abortion is wrong prostudiousa.com when to have abortion
cell phone spy app blog.bjorback.com how to find a location of a cell phone
free prescription card link cvs online shopping
walgreens coupon code photos read walgreens new prescription coupon
coupons for cialis carp-fishing.nl free printable cialis coupons
coupons for cialis coupon for prescription free printable cialis coupons
discount drug coupon discount prescription coupons discount coupons for viagra
albuterol (salbutamol) charamin.com albuterol (salbutamol)
albuterol (salbutamol) charamin.com albuterol (salbutamol)
sumatriptan pill lasix 100mg finasteride pill
acyclovir 200mg xifaxan 400mg tretinoin 0.05%
rifaximin pill blogs.elangovanr.com propranolol 20mg
rx pharmacy card onlineseoanalyzer.com coupons free printable
discount prescription card mikemaloney.net coupon for free cialis
levitra 40mg open lasix 40mg
viagra free sample coupons open prescription discount coupon
drug discount coupons blog.plazacutlery.com prescription drugs discount cards
coupon for prescriptions liberitutti.info viagra coupon
viagra online coupon click drug coupons
viagra online coupon click drug coupons
viagra online coupon click drug coupons
viagra coupons printable discount prescription drug card viagra free coupon
viagra coupon blog.alpacanation.com viagra manufacturer coupon
can i take carvedilol with low bp link can i take carvedilol with low bp
can i take carvedilol with low bp can i take carvedilol with low bp can i take carvedilol with low bp
can i take antabuse and naltrexone can i take antabuse and naltrexone can i take antabuse and naltrexone
can i take antabuse and naltrexone can i take antabuse and naltrexone can i take antabuse and naltrexone
can i take antabuse and naltrexone can i take antabuse and naltrexone can i take antabuse and naltrexone
can i take antabuse and naltrexone can i take antabuse and naltrexone can i take antabuse and naltrexone
lisinopril and lupus symptoms site lisinopril and lupus symptoms
lisinopril and clindamycin lisinopril and clindamycin lisinopril and clindamycin
lisinopril and clindamycin lisinopril and clindamycin lisinopril and clindamycin
canada drug pharmacy coupon open canada drug pharmacy coupon
how to get the abortion pill day after pill abortion pill cost
doxycycline doxycycline doxycycline
metformin metformin metformin
metformin metformin metformin
metformin metformin metformin
progesterone progesterone progesterone
cialis coupon cialis coupon cialis coupon
cialis coupon cialis coupon cialis coupon
sumatriptan overdose sumatriptan overdose sumatriptan overdose
sumatriptan overdose sumatriptan overdose sumatriptan overdose
discount card for prescription drugs site 2015 cialis coupon
cialis.com coupon discount prescription coupons
cialis.com coupon cialis savings and coupons discount prescription coupons
acheter viagra en ligne europe acheter viagra en ligne europe acheter viagra en ligne europe
acheter viagra belgique sans ordonnance acheter viagra belgique sans ordonnance acheter viagra belgique sans ordonnance
online viagra bestellen http://viagrapillenkruidvat.com viagra online forum
generic cialis coupons link cialis coupon rite aid
drug coupon card read free prescription discount cards
cialis coupons and discounts eblogin.com free prescription cards discount
prescription coupons go cialis coupons and discounts
discount drug coupon printable cialis coupon cialis savings and coupons
lilly coupons for cialis site new prescription coupon
ibuprofen fieber ibuprofen 600 ibuprofen nebenwirkungen
augmentin et grossesse arbot.cz augmentin et alcool
viagra cijena centauricom.com viagra iskustva
kamagra bestellen read kamagra 100mg
evista uso evista evista
renovar carteira de motorista renovar passaporte renovar carteira de motorista
voltaren wirkstoff totspub.com voltaren
inderal engorda inderal inderal similar
cordarone medicin cordarone loading cordarone medicin
cordarone medicin blog.zycon.com cordarone medicin
symbicort photo bvandam.com symbicort
imodium plus imodium instants melts imodium dosage for adults
imodium para que serve imodium lingual imodium 2mg
imodium para que serve go imodium 2mg
telmisartan generico go telmisartan hidroclorotiazida
telmisartan generico open telmisartan hidroclorotiazida
kamagra 100mg kamagra wirkung kamagra oral jelly kaufen
vivitrol cost naltrexone alcoholism medication naltrexone hcl

Tin tức cùng nhóm khác

Tin tuyển sinh

Thông báo tuyển sinh 2015 Ðịa điểm nhận hồ sơ: Phòng Đào tạo Trường Đại học Chu Văn An, khu đô thị đại học Phố Hiến, đường Tô Hiệu, phường Hiến Nam, TP Hưng Yên, Hưng Yên, điện thoại liên hệ (0321).3515592 – 3.515587. Phòng Ðào tạo Trường...

Quảng cáo

Quảng cáo